Những cách đơn giản giúp bé ham học

Tạo không gian học tập yên tĩnh, thoáng mát, cho bé học vào thời điểm thích hợp, giúp con rèn khả năng ghi nhớ, tập trung qua việc nhỏ mỗi ngày, không trách mắng khi kèm bé học... là những cách giúp bé hứng thú với bài vở.
Trẻ kém tập trung khi học là hiện tượng khá phổ biến hiện nay. Ngoài lý do phụ huynh không thể thay đổi được là nội dung chương trình học mà ai cũng thấy là khô khan và nặng nề cũng như những hạn chế về năng lực sư phạm và tâm lý của giáo viên, có nhiều yếu tố góp phần làm trẻ kém tập trung trong việc học từ môi trường xung quanh đến năng lực của bản thân. Với những yếu tố này, bố mẹ có thể tác động để cải thiện tình trạng kém tập trung của trẻ. 
Thông thường, trẻ kém tập trung trong việc học bởi các lý do sau:
Lý do khách quan:
Không có không gian học tập thích hợp.
Bàn học không gọn gàng - thiếu dụng cụ học tập.
Thời điểm học tập không phù hợp hay thiếu ổn định.
Lý do chủ quan:
- Chưa có sự chuẩn bị tâm lý - thể chất.
- Không xác định mục tiêu học tập.
- Thiếu hứng thú, cảm thấy bị ép buộc.
Lý do bản thân:
Thiếu kỹ năng học tập.
- Thiếu kỹ năng tập trung.
- Thiếu kỹ năng ghi nhớ.
Ảnh minh họa: Gecko-wel.com.
Các phụ huynh có thể thay đổi và cải thiện các yếu tố này bằng cách:
Tạo một không gian học tập:
Không gian học tập không đơn thuần là cái bàn học, mà còn là khung cảnh xung quanh. Tùy theo điều kiện gia đình, nhưng bố mẹ hãy sắp xếp để trẻ có được:
- Một góc học tập tương đối yên tĩnh, thoáng mát, sáng sủa và không bị các hình ảnh xung quanh chi phối. Cần bố trí ánh sáng phù hợp (từ trên và từ bên trái phía sau chiếu đến).
- Trong giờ học, tránh việc cắt ngang (trẻ đang học chạy đi vệ sinh, uống nước, người giám sát việc học bỏ đi làm việc khác, anh chị em của trẻ đến bàn học nói chuyện...).
Bàn học thích hợp:
- Chuẩn bị đủ học cụ: bút, thước, hồ dán, kéo, giấy, sách học, không để tình trạng ngồi vào bàn rồi mới đi kiếm cái này cái nọ.
- Không bầy biện lung tung trên mặt bàn, chỉ để những gì cần thiết có liên quan đến bài học.
- Bàn học và ghế ngồi cần phù hợp với chiều cao của trẻ, tránh việc ngồi một cách gò bó, phải cố gắng trong việc viết và nhìn bài tập.
Thời điểm thích hợp:
- Thời điểm tốt nhất là vào đầu giờ chiều, trẻ sẽ nhớ tốt hơn. Nếu trẻ phải đi học cả ngày thì hãy sắp xếp để trẻ học và làm bài cách bữa ăn chiều ít nhất là một giờ (khoảng 7h30-8h30).
- Học tốt nhất khi có được đủ khoảng thời gian liên tục trong 20-30 phút và sau đó sẽ nghỉ ngơi 5-10 phút (uống nước, vệ sinh trong thời điểm này). Sau đó trước khi quay lại việc học, nên cho trẻ chơi một số trò trí tuệ, hỗ trợ cho việc nâng cao sự chú ý.
- Dừng học khi mệt mỏi hoặc bắt đầu thấy thiếu tập trung. Nghỉ 10 phút sau đó trở lại làm việc.
Chuẩn bị tâm lý học tập:
- Hãy giúp trẻ thực hiện một lịch hoạt động trong ngày, trong đó xác định rõ ràng thời gian học tập tại nhà mỗi ngày. Trước khi bước vào giờ học trẻ phải đánh dấu vào việc đã làm để thấy rõ là sau việc này sẽ đến giờ học.
- Tạo sự thoải mái, vui vẻ, không tạo những tình huống hay thông tin chi phối sự tập trung của trẻ trước giờ học như không la mắng các sai phạm (nếu có) của trẻ, không nói về buổi đi chơi cuối tuần hay một chương trình, một bộ phim hay...
Xác định mục tiêu học tập
Đặt mục tiêu rõ ràng cho buổi học, trả lời được các câu hỏi:
- Hôm nay học những bài gì: Ghi rõ tiêu đề bài học.
- Mục tiêu học hôm nay: Học bao nhiêu trang, làm bao nhiêu bài tập.
Bài học có thể chia làm 2-3 phần (nếu dài) hay không?
Các biện pháp để phát triển kỹ năng cho trẻ đến trường:
- Kỹ năng học tập:
Nếu trẻ chưa có thói quen ngồi vào bàn học trong những giờ nhất định, hãy tập ngồi vào bàn theo các nguyên tắc sau:
Trong tuần lễ đầu, mỗi buổi học chỉ dài tối đa 30 phút và có thể chia làm 2 (nghỉ giữa buổi khoảng 5 phút).
- Trong tuần lễ đầu nên xen kẽ các bài học và bài tập khả năng chú ý (dưới dạng trò chơi) mà trò chơi có thể chiếm một nửa thời gian học, để trẻ dần dần có tâm lý hứng thú với việc ngồi để học hơn.
- Khi trẻ đã có thói quen tự ý ngồi vào bàn học khi đến giờ, lúc đó mới nên gia tăng giờ học lên khoảng 1 giờ đến 1 giờ 30 (là tối đa).
- Hãy động viên, khích lệ những gì trẻ làm được, làm đúng trong giờ học, đừng chê bai, phê phán hay đánh mắng trẻ trong thời điểm này khi trẻ thất bại, khó tập trung, quên bài.
- Kỹ năng tập trung:
Kỹ năng tập trung không phải là một khả năng có thể đạt được trong một thời gian ngắn, mà phải giúp trẻ từng bước với các kỹ thuật sau:
- Khuyến khích và tạo điều kiện cho trẻ chơi các trò chơi nâng cao khả năng tập trung trong giờ học (trước - giữa giờ học) cũng như trong các giờ khác trong ngày tại gia đình.
- Tập cho trẻ nói lên: Yêu cầu trẻ nói: “Quay lại ngay đây”. Mỗi khi trẻ tỏ ra lơ đãng hãy yêu cầu trẻ nói ra câu nói này trước khi bắt đầu quay lại bài học. Đây là một kỹ thuật có tính ám thị, giúp tâm trí trẻ không “đi lang thang”.
- Tập cho trẻ làm các việc nhà (quét nhà, lau nhà, xếp quần áo, phụ dọn cơm, dọn dẹp trong gia đình). Điều này không những giúp trẻ nâng cao khả năng tập trung mà còn giúp trẻ phát triển khả năng tự tin vào bản thân.
- Tập cho trẻ viết tốt hơn: Chữ quá xấu hay có khó khăn trong việc viết cũng khiến trẻ chán nản, kém tập trung. Hãy tập cho trẻ ăn bằng đũa, cho các em dùng kéo cắt các hình, tập gấp giấy. Đây là những kỹ thuật hỗ trợ giúp trẻ khéo tay hơn.
Chúng ta cũng lưu ý để trẻ cầm bút cho đúng cách và tập vẽ các đường cơ bản (đường thẳng kéo dài trên trang giấy từ trái sang phải, đường xiên, đường móc, đường lượn sóng, đường zic zac). Vẽ mỗi ngày trong các giờ học thêm trên 1-3 trang giấy sẽ giúp trẻ cải thiện được nét chữ.
Kỹ năng ghi nhớ
Một yếu tố khiến trẻ khó tập trung là sự hạn chế về khả năng ghi nhớ. Vì vậy, sự luyện tập về khả năng ghi nhớ cũng là yếu tố giúp cho trẻ tập trung tốt hơn.
Lưu ý các nguyên tắc sau:
- Khi học bài (các bài môn Tiếng Việt, Lịch sử, Công dân...) cần có hình minh họa và sơ đồ tư duy đơn giản để diễn giải lại bài học qua các hình ảnh (học bằng mắt). Với các bài cần thuộc lòng thì việc vừa đọc vừa viết ra từng câu ngắn (học bằng thính giác, thị giác, xúc giác) sẽ giúp trẻ nhớ kỹ hơn.
- Khi làm các bài toán cũng cần có những minh họa cụ thể.
- Hãy khuyến khích trẻ tập tóm tắt bài học, diễn giải bài học thành các sơ đồ (tập cho trẻ biết dùng sơ đồ tư duy) và nói ra được ý chính của bài.
- Hãy nhớ ôn lại trước khi ngủ: Sau giờ học trẻ sẽ được nghỉ ngơi nhưng trước khi đi ngủ - trẻ cần xem và đọc lại các ý tóm tắt, xem sơ đồ minh họa bài học. Hoạt động này sẽ giúp cho trí não của bé ghi lại những gì cần nhớ trong khi ngủ.
- Vào buổi sáng, nếu có điều kiện cũng nên cho trẻ xem lại các phiếu ghi ý chính của bài học trước khi đến trường.
Ngoài ra, phụ huynh cũng nên biết rằng, mỗi trẻ có nhịp sống (hay đồng hồ sinh học) khác nhau, vì vậy nếu được hãy xếp giờ học của trẻ vào thời điểm nào trong ngày trẻ tỏ ra thoải mái, sung sức nhất. Vì nói chung thì có 2 loại tính cách. Một là mẫu người họa mi, có thói quen ngủ sớm, dậy sớm và hoạt động tốt vào buổi sáng. Thứ hai là mẫu người chim cú, có thói quen ngủ muộn, thức khuya và dậy trễ - hoạt động tốt vào buổi chiều và buổi tối.
Bố mẹ cần lưu ý con mình thuộc mẫu người nào để xếp đặt giờ học cho phù hợp. Dĩ nhiên điều này chỉ mang tính tương đối, nhưng nếu biết và vận dụng được, nó cũng góp phần đem lại hiệu quả cho việc học của trẻ.
Chuyên gia tâm lý Lê Khanh
Giám đốc Trung tâm tư vấn tâm lý - đào tạo kỹ năng Rồng Việt

Con học kém dù rất thông minh

Con tôi là một đứa trẻ khá thông minh nhanh nhẹn, trí nhớ tốt, chơi đố toán hay đố chữ bé đều trả lời đúng và nhanh. Tuy nhiên, ở trường lúc nào bé cũng bị điểm kém vì không hoàn thành bài vở trong thời gian quy định. 
Không bao giờ bé hoàn thành hết chương trình học một ngày, toàn mang về nhà. Hồi lớp 1, tôi cứ nghĩ do bé chưa quen đi học nên đã kiên nhẫn giúp con nhưng nay đã lớp 2 rồi, tình hình cũng không có gì khác.
Theo tôi quan sát, khi tập viết, bé chỉ viết một chữ ngắn (hoặc nửa chữ dài), sau đó là ngồi nhìn chỗ này chỗ kia, hoặc rờ tay, gãi đầu, gãi khắp người, khi được nhắc nhở bé mới viết tiếp. Nếu không có người nhắc, khoảng 5-10 phút sau bé mới tự động viết chữ kế tiếp. Tình trạng này lặp lại ở tất cả các môn học khác. Mặc dù bé thích đi học, yêu mến cô giáo, tự giác ngồi vào bàn đúng giờ nhưng hiệu suất làm việc lại rất kém.
Thậm chí khi nói chuyện với người khác, cũng thường xuyên xảy ra tình trạng bé nói chưa hết câu thì liền chuyển đề tài khác. Một đoạn đối thoại của bé chỉ dài khoảng 5 câu, sẽ có ít nhất 5 đề tài khác nhau được đề cập tới, dẫn đến việc bé không giao tiếp được với các bạn cùng lớp hay người lạ.
Trước giờ bé chỉ tập trung duy nhất trong việc vẽ và nặn đất sét. Bé có khả năng quan sát rất tốt, nhìn qua một vật là có thể vẽ lại, nặn đầy đủ từng chi tiết của vật đó. Bé có thể vừa vẽ, nặn, vừa kể các câu chuyện liên quan đến nhân vật bé đang vẽ, nặn, có khi đến nhiều tiếng đồng hồ vẫn không chán. Tôi rất lo lắng không biết những biểu hiện thiếu tập trung trong việc học của bé có bình thường hay không. Xin hướng dẫn tôi cách khắc phục, vì hiện nay tình hình điểm số ở trường của con rất tệ, có thể sẽ không lên lớp được. (Bình Nguyên)
Ảnh minh họa:Adkidsmodeling.com.
Trả lời
Theo chia sẻ của bạn thì trẻ có khá nhiều ưu điểm: thông minh nhanh nhẹn, thích đi học, yêu mến cô giáo, tự giác ngồi vào bàn học, khả năng quan sát tốt. Vấn đề bạn lo lắng là khả năng tập trung của trẻ. Đây cũng là nỗi lo của rất nhiều gia đình bởi trẻ ở lứa tuổi 6-7 tình trạng không tập trung trong học tập khá phổ biến. Do trẻ độ tuổi này chưa nhận thức được vai trò của việc học và tâm lý còn ham chơi, dễ bị phân tán chú ý bởi những sự vật sự việc xung quanh.
Tuy nhiên khả năng tập trung chú ý ảnh hưởng lớn đến kết quả học tập cũng như khả năng xã hội của trẻ, bởi vậy cần hết sức lưu ý vấn đề này. Bạn có thể tham khảo một vài gợi ý sau để cải thiện tình hình tập trung chú ý cho trẻ:
- Trước hết, việc rèn luyện khả năng tập trung cho trẻ không nên nóng vội và thúc ép. Cha mẹ hãy linh hoạt xen kẽ giữa học và chơi để trẻ hứng thú trong học tập, kiên nhẫn kèm cặp mỗi ngày giúp trẻ tăng dần thời gian tập trung.
- Bạn hãy giao tiếp nhiều với con, luôn chú ý yêu cầu con diễn đạt rõ ràng lần lượt từng mong muốn của mình, nếu trẻ nói lộn xộn nhiều đề tài một lúc hãy cương quyết nhắc trẻ phải diễn đạt lại từng nội dung nếu không sẽ không được mọi người hiểu ý và đáp ứng mong muốn.
- Không nên bắt trẻ nhớ nhiều nhiệm vụ học tập một lúc, nên đưa ra những nhiệm vụ đơn giản trước sau đó mới dần tăng cường số lượng và thời lượng các bài học.
- Hạn chế thời gian xem TV và chơi điện tử của trẻ bởi luôn có những thay đổi diễn ra liên tục trong các chương trình và trò chơi sẽ làm giảm khả năng tập trung tự nhiên của trẻ.
- Động viên trẻ luôn cố gắng hoàn thành xong việc này rồi mới chuyển sang việc khác. Duy trì thói quen thực hiện một nhiệm vụ cho đến cuối cùng là điều rất quan trọng để phát triển sự tập trung cho trẻ.
- Như bạn chia sẻ về sở thích của con thì hãy tận dụng chính những thế mạnh, sở thích này để tăng cường khả năng tập trung chú ý như: lồng ghép các hoạt động đếm số, tô màu, giao tiếp vào hoạt động vẽ và nặn đất sét…
- Bạn cũng có thể trao đổi với giáo viên để sắp xếp cho con vị trí ngồi phù hợp trong lớp, chẳng hạn ngồi bàn đầu, không gần cửa sổ...
- Bên cạnh đó cần lưu ý chế độ dinh dưỡng cho trẻ bởi khả năng tập trung chú ý có thể bị suy yếu nếu chế độ dinh dưỡng của trẻ thiếu chất sắt, chất khoáng, chất đạm, vitamin B1, B12 và quá thừa chất đường.
- Cuối cùng, nếu sau rất nhiều nỗ lực của gia đình mà trẻ không có chuyển biến tích cực thì bạn nên đưa trẻ đến các chuyên gia tâm lý để được đánh giá hỗ trợ kịp thời.
Nguyễn Thế Anh
Chuyên viên tâm lý, Trường mầm non Hoàng Gia

Tài năng của trẻ phát triển tốt nhất trước 6 tuổi

Theo các nhà nghiên cứu, tuổi vàng phát triển của trẻ là từ 0 đến 6 tuổi nên cần thực hiện những kích thích nhằm giúp bé bộc lộ tài năng sớm. Giáo dục mầm non vì thế phải chú trọng phát triển trí thông minh cho trẻ.
Bộ GD&ĐT vừa công bố thông tư ban hành quy chế công nhận trường mầm non đạt chuẩn quốc gia, trong đó có những tiêu chí như: 100% trẻ phải được bảo đảm an toàn về thể chất và tinh thần; không xảy ra dịch bệnh và ngộ độc thực phẩm; được khám sức khoẻ định kỳ; có ít nhất 85% trẻ phát triển bình thường về cân nặng và chiều cao theo tuổi....
Các chuyên gia giáo dục cho rằng, trong số điều kiện công nhận trường mầm non đạt chuẩn quốc gia còn thiếu tiêu chí về kết quả đào tạo trẻ dưới 5 tuổi. Theo những kết quả đã được công bố của Viện nghiên cứu phát triển trẻ thông minh sớm thì tiềm năng của một đứa trẻ được xác định trong những năm đầu, từ giây phút đầu tiên của cuộc sống đến những năm tháng chăm sóc ở gia đình và cơ sở nuôi dạy trẻ.

Giai đoạn mẫu giáo rất quan trọng trong việc phát triển tiềm năng của trẻ. Ảnh: Thi Trân.
Trong một hội thảo về trẻ thông minh sớm, tiến sĩ Phạm Mai Chi cho biết, các nghiên cứu và tìm hiểu về não bộ trẻ cho kết quả: một nửa sự phát triển quan trọng của não bộ ở đứa trẻ được hoàn thành vào thời điểm nó bắt đầu học mẫu giáo. Đặc biệt, trẻ em có các mạch thần kinh nếu không được kích thích trước khi học mẫu giáo thì sẽ không bao giờ có được sự thông minh đáng có. Bà cho rằng, 0-6 tuổi là thời kỳ vàng, cửa sổ của các cơ hội giáo dục khai mở tiềm năng cho trẻ.
Thời kỳ tốt nhất để phát triển sự gắn bó về mặt xã hội và tiếng nói của trẻ là trước 2 tuổi, nhận biết chữ là trước 3 tuổi và học đếm là trước 4 tuổi. Tiến sĩ Mai Chi cho hay bộ não trẻ ngay từ sơ sinh đã có những tiềm năng đáng kinh ngạc: lúc mới sinh trọng lượng não bằng 25% não người trưởng thành, 9 tháng tuổi gấp đôi so với não sơ sinh, 3 tuổi gấp 4 lần lúc mới sinh và 6 tuổi hầu như hoàn thiện về cấu trúc.
Bà dẫn lời A.Makarenko từng dự đoán nền móng của giáo dục được xây dựng vững chắc từ trước 5 tuổi, nó chiếm 90% cả quá trình giáo dục. Thực chất, đó là giáo dục khai phá và phát triển tiềm năng của con người. 
Quy luật “tài năng thuyên giảm” tồn tại trong quá trình phát triển tài năng và tố chất của trẻ em.
Giáo sư Shichida (Nhật Bản) từ những năm 1950 đã dành nhiều thời gian nghiên cứu về phương pháp giáo dục mầm non. Những phát hiện và kết luận của ông đã làm xôn xao dư luận với phương pháp giáo dục sớm cho trẻ được nhiều trường mầm non áp dụng. Theo đó, khoa học đã chứng minh rằng, não người phát triển với tốc độ cao nhất là trong giai đoạn sơ sinh, và quá trình phát triển gần như được hoàn thành khi ta 12 tuổi. Chính vì vậy, thực hiện những kích thích nhằm giúp bé có thể bộc lộ tài năng nên bắt đầu càng sớm thì hiệu quả càng cao. 
Mặt khác, ở não phải có một đường dẫn (vừa là đường đi của năng lượng cơ thể, vừa là nơi xử lý thông tin), khi bé được 6 tuổi thì đường dẫn này sẽ được hình thành một cách toàn vẹn. Chính vì thế mà khả năng để phát triển những tài năng của trẻ sẽ giảm đi một cách nhanh chóng cùng với độ tuổi của bé.
Giáo sư Shichida cũng đã công bố nghiên cứu về sự quan trọng của “Chế độ dinh dưỡng” từ năm 1980. Với kinh nghiệm của bản thân, ông khẳng định thực phẩm dinh dưỡng và sự phát triển của não bộ là những thứ không thể tách rời. Khái niệm “Chế độ dinh dưỡng” đã được áp dụng vào lĩnh vực giáo dục. Ông cũng cân nhắc những tác động, kích thích tích cực để giúp não bộ phát triển một cách toàn diện mà không tạo ra sự chênh lệch giữa não trái và não phải.
"Các bài tập thể dục và chế độ dinh dưỡng thích hợp cần được quan tâm vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển tinh thần và thể chất của trẻ. Bên cạnh đó, giáo dục mầm non, mẫu giáo cần đặt mục tiêu quan trọng là giáo dục toàn bộ nhân cách và nuôi dưỡng tâm hồn trẻ, dạy bé những kỹ năng cần thiết trong cuộc sống, các quy tắc xã hội, cũng như việc phát triển những cảm xúc và tinh thần cộng đồng", một chuyên gia nghiên cứu về phát triển thông minh sớm cho trẻ nói.
Kiều Trinh

Lý do không nên bỏ mặc bé khóc

Nhiều bà mẹ trẻ được khuyên cách tốt nhất để đối phó với việc bé khóc dai là mặc kệ, rồi bé sẽ tự nín. Nhưng điều này có thể gây hại cho sự phát triển tâm lý và cảm xúc của trẻ.
Dưới đây là 6 lý do Sg.theasianparent.com giải thích tại sao phớt lờ tiếng khóc của con không phải là ý kiến hay.
Khóc là cách giao tiếp duy nhất của bé
Trước khi phát triển kỹ năng ngôn ngữ, cách để trẻ biểu lộ cảm xúc là thông qua việc khóc hay cười. Cả hai trạng thái này đều diễn ra tự nhiên và là cách duy nhất để trẻ giao tiếp. Việc bị bỏ mặc khi khóc không khiến trẻ hiểu là chỉ mỉm cười mới thu hút sự chú ý của người lớn còn khóc sẽ bị phớt lờ.
Ảnh minh họa: Sg.theasianparent.com.
Mặc kệ tiếng khóc có thể làm giảm hiệu quả ngôn ngữ nói của trẻ
Khi bố mẹ phớt lờ tiếng con khóc, trẻ sẽ được dạy là bé không có quyền bày tỏ sự không hài lòng. Điều này có thể ảnh hưởng tới sự phát triển kỹ năng nói của trẻ. Kết quả là, trẻ có thể gặp khó khăn trong việc hiểu cảm xúc của chính mình và do đó có vấn đề về sắp xếp trật tự từ.
Cảm xúc không vui có thể bị dập tắt
Khi tiếng khóc của một em bé bị phớt lờ cũng là dấu hiệu cho thấy cảm xúc không vui là điều gì đó không được quan tâm. Khi bé lớn lên, trẻ sẽ lựa chọn hình thức giữ lại cảm xúc không vui trong nội tâm, gây ức chế và sẽ cản trở sự phát triển tâm lý lành mạnh sau này trong cuộc sống.
Đánh giá thấp cảm xúc của trẻ
Phớt lờ tiếng khóc của một đứa trẻ sẽ gửi tới bé thông điệp rằng cảm xúc của em không quan trọng. Điều này có thể tác động lớn nhất tới cả trẻ và cha mẹ chúng khi trẻ ở tuổi vị thành niên. Khi cảm xúc của trẻ bị đánh giá thấp trong những năm đầu hình thành nhân cách, như tuổi teen, trẻ có thể không thấy tầm quan trọng của việc giao tiếp cởi mở với bố mẹ mình.
Trẻ học cách phớt lờ những người bơ vơ
Khi trẻ cố gắng hiểu thế giới phức tạp đang sống, chúng thường khái quát hóa những điều mình quan sát được. Khi tiếng khóc của trẻ bị phớt lờ, chúng nghĩ thế giới này không phải là nơi giàu lòng nhân ái, có sự đồng cảm, chia sẻ và những người bất hạnh, không nơi nương tựa sẽ bị bỏ mặc. Nếu bạn muốn con lớn lên biết động lòng trắc ẩn và có sự sẻ chia, đừng giấu giếm cảm xúc hay sự chú ý khi bé phiền muộn, khó chịu.
Khóc là bản năng tự nhiên
Luôn có hậu quả tiêu cực cho việc phớt lờ hay ức chế các bản năng tự nhiên, mạnh mẽ nhất của mỗi chúng ta. Những trẻ sơ sinh khóc dai dẳng có mức hoóc môn căng thẳng cao bất thường và hoóc môn tăng trưởng thấp hơn. Điều này ức chế sự phát triển của các mô thần kinh trong não, kìm nén sự phát triển, và làm trì trệ hệ thống miễn dịch.
Một nghiên cứu do các nhà khoa học tại Trường y Harvard và trường Yale (Mỹ) cho thấy căng thẳng quá mức ở một đứa trẻ suốt những tháng đầu đời có thể thay đổi hệ thống dẫn truyền thần kinh não và gây ra những thay đổi về cấu trúc, chức năng bộ não tương tự như những gì gặp ở người lớn bị trầm cảm.
Khóc là bản năng tự nhiên của trẻ em. Đôi khi nó chỉ là sự kêu gọi chú ý chứ không báo hiệu điều gì nghiêm trọng. Dù là như vậy, đó cũng là một nhu cầu chính đáng. Hãy xem con cần gì trước khi phớt lờ tiếng khóc của con.
Vậy có cần phải ngay lập tức vỗ về hay đáp ứng nhu cầu của trẻ khi con khóc? Không cần thiết. Nhưng đừng bỏ mặc trẻ và hãy thể hiện sự đồng cảm. Chẳng hạn, nếu bé tuổi mầm non của bạn muốn ăn kẹo vào bữa sáng, và bạn không đồng ý, rồi con khóc, không cần phớt lờ con hay vội đưa ngay kẹo cho bé. Bạn có thể thử nói: "Mẹ biết con buồn vì không được ăn kẹo. Mẹ biết con thực sự muốn ăn kẹo, nhưng nó không tốt cho sức khỏe nếu ăn kẹo thay bữa sáng. Mẹ muốn con được khỏe mạnh".
Khi bạn nói điều gì đó tương tự cách trên, bạn vừa tỏ ra hiểu tâm trạng của con vừa vẫn ghi nhận cảm xúc của bé. Bằng cách không phớt lờ sự thất vọng của bé sơ sinh hay trẻ nhỏ, bạn sẽ tạo lập được nền tảng cảm xúc mạnh mẽ cho con để lớn lên trẻ trở thành người có tâm lý vững vàng, toàn diện.
Vương Linh

Những tính cách khó chịu của bé cần được điều chỉnh sớm

Sự nghịch ngợm thái quá, tính nhõng nhẽo, ích kỷ... của trẻ thường khiến không ít phụ huynh phiền lòng và thấy "khó chữa".
Bên cạnh thuận lợi về sự phát triển của cơ thể và hệ thần kinh khiến cho trẻ có thể dễ dàng tiếp nhận kiến thức cần thiết cho việc bước vào nhà trường, lứa tuổi 4-6, cái tôi của trẻ đã hình thành rõ nét. Điều này khiến trẻ ý thức khá rõ về những “quyền lợi” và “thế mạnh” của mình. Vì thể trẻ dễ có những tình trạng như: hiếu động - nghịch ngợm, nhõng nhẽo, nhút nhát... hoặc trở nên biếng ăn, kén ăn hay có nguy cơ béo phì.
Trẻ quá hiếu động
Thông thường, khi bước vào lứa tuổi 4-6, trẻ có rất nhiều năng lượng do chưa phải tập trung nhiều vào học tập, các cơ quan đang trên đà “liên tục phát triển”. Vì vậy, nhất là đối với bé trai thì việc nghịch ngợm, leo trèo, chạy nhảy và cả phá phách đều được xem là bình thường. Thế nhưng cũng có trẻ sự năng động đó phát triển đến mức “ngoài tầm kiểm soát” của bố mẹ và cả với chính bé. Đây là tình trạng mà ta gọi là hiếu động thái quá hay rối loạn vận động.
Ảnh minh họa: Huffingtonpost.com.
Cần phân biệt hai tình trạng khác nhau của trẻ như sau:
Trẻ có tính khí năng động: Do trẻ có nhiều xung năng, cá tính hướng ngoại nên thường xuyên chạy nhảy, chơi đùa nhưng vẫn có khả năng giao tiếp và có quan hệ tốt với người xung quanh. Trẻ có sự hiểu biết và có thể ngồi chơi một cách tập trung trong một số trò chơi ưa thích trên 15 phút. Đây là tình trạng bình thường, chỉ cần có những tác động và cách ứng xử thích hợp giúp trẻ điều chỉnh một số hành vi quá đáng.
Bố mẹ có thể giúp trẻ phát triển nhiều kỹ năng tốt thông qua các trò chơi vận động. Cần sắp xếp cho trẻ có không gian thích hợp (là khu vực được phép chơi thoải mái trong nhà) cùng với việc tập cho trẻ tham gia hoạt động trong nhà như phụ giúp bố rửa xe, tưới cây, phụ mẹ dọn dẹp và chuẩn bị bữa ăn... Những điều đó giúp trẻ vừa có điều kiện “xả năng lượng” vừa nâng cao sự tự tin vào khả năng của mình.
Trẻ hiếu động - kém tập trung: Trẻ thường xuyên có tình trạng lăng xăng do không có khả năng tập trung vào một điều gì, dù chỉ là ngồi chơi 5-10 phút, khả năng giao tiếp, hiểu biết rất kém và thường có tình trạng chậm nói. Chúng ta gọi đó là hội chứng Tăng động - giảm chú ý (Attention deficit hyperactivity disorder, gọi tắt là ADHD).
Để phân biệt, ngoài những dấu hiệu như chậm nói, hay không có trí nhớ ngắn hạn, thường có hành vi lập lại, thì một trẻ có hội chứng ADHD hầu như không thể ngồi yên trong bất cứ hoàn cảnh nào (ăn uống, vui chơi…) quá 5 phút. Trong khi đó trẻ hiếu động do tính khí có thể ngồi yên chơi một trò chơi hay chơi games một cách say mê từ 10 phút cho đến nửa giờ hoặc hơn. Khi nghi ngờ hay thấy trẻ có những dấu hiệu của ADHD, phụ huynh cần đưa con đến các nhà chuyên môn về tâm lý để có chẩn đoán chính xác về mức độ và biện pháp can thiệp thích hợp.
Trẻ lười biếng
Trái ngược với tình trạng hiếu động, có những bé tỏ ra lười biếng trong mọi hoạt động. Có thể đó là do trẻ có sức khỏe kém, suy nhược dẫn đến những phản ứng chậm chạp lâu dần thành thói quen, nhưng đa phần là do sự chăm sóc, cưng chiều hơi thái quá của mẹ hay ông/bà khiến cho trẻ hầu như không phải làm một điều gì ngay cả việc tự chăm sóc bản thân.
Điều này có thể chấp nhận với những trẻ dưới 3 tuổi, khi khả năng vận động tinh chưa thuần thục, khiến trẻ dễ gây đổ vỡ hoặc vụng về. Nhưng trẻ 5 tuổi bình thường, đã hoàn thiện về các chức năng vận động, người lớn phải tập cho bé biết tự ăn, tự làm vệ sinh cá nhân và luôn khuyến khích trẻ tham gia hoạt động chung với các thành viên khác trong gia đình, có thể làm một số công việc nhẹ nhàng phụ giúp bố mẹ.
Việc cưng chiều trẻ, để trẻ không phải làm một việc gì khác ngoài vui chơi và học tập là không nên, vì đó là mầm mống cho những thái độ và hành vi không thích nghi với môi trường bên ngoài, trong đó có trường tiểu học. Qua đó, bé sẽ trở nên lười biếng và ích kỷ, không biết tham gia các hoạt động chung với mọi người và sẽ có những khó khăn trong việc giao tiếp, ứng xử với bạn bè khi vào lớp một.
Có thể, ban đầu sự lười biếng đó chỉ đơn giản là việc thức dậy trễ, làm biếng đánh răng, rửa mặt, tắm rửa… dần dần sẽ đi đến việc lười gấp màn, chăn gối và quần áo cá nhân. Từ đó, trẻ sẽ tỏ ra lười biếng trong việc xếp dọn đồ chơi, đồ dùng cá nhân trong phòng... Từng bước một, nếu không có biện pháp tác động và can thiệp kịp thời, mức độ lười biếng của trẻ ngày càng tăng cho đến khi bố mẹ, người thân cảm thấy không còn chịu đựng nổi nữa. Lúc đó việc tác động để điều chỉnh sẽ hết sức khó khăn, có thể gây ra tổn thương tâm lý, hay tạo ra những trở ngại trong các mối quan hệ gia đình, rất khó thay đổi khi trẻ lớn hơn.
Trẻ nhõng nhẽo
Có những trẻ nếu không hiếu động, nghịch ngợm thì lại trở nên nhõng nhẽo, đòi hỏi sự chăm sóc quá mức cần thiết và luôn mong muốn mọi người phải làm theo, phải chấp nhận đòi hỏi của bản thân, điều đó khiến cho khả năng ứng xử của trẻ trở nên kém cỏi và thụ động… Đa phần các vấn đề về thái độ là rơi vào bé gái.
Trẻ nhõng nhẽo đa phần do sự “tập luyện” của bố mẹ và đôi khi có sự hỗ trợ khá đắc lực của ông bà. Trong trường hợp này, muốn làm giảm sự nhõng nhẽo của trẻ rất khó khăn.
Trẻ nhõng nhẽo trong một chừng mực nào đó có vẻ dễ thương, nhất là với các bé gái xinh xắn thì chút nhõng nhẽo sẽ làm cho các em tạo được sự quan tâm nhiều hơn, và đó cũng được xem là một thế mạnh của bé. Thế nhưng, từ sự dễ thương để đi đến thói đành hanh và khiến bạn bè, anh chị em xa lánh vì sự quá đáng của mình chỉ là một bước nhỏ.
Với các bé gái và cả bé trai trong độ tuổi 3-5 tuổi, tình trạng nhõng nhẽo thường không kiểm soát, không kìm chế được. Các bé luôn ở trong tình trạng được voi đòi tiên, được một muốn hai… dễ đi đến một cuộc “chiến tranh” giữa bé và người lớn mà đa phần chiến thắng lại thuộc về trẻ.
Từ khi trẻ bước vào lứa tuổi 3-5 thì việc đặt ra mức độ để hạn chế nhu cầu không cần thiết của bé là cực kỳ quan trọng. Một mặt bố mẹ để cho bé tự giác trong các hoạt động cá nhân để hình thành sự tự tin qua việc tôn trọng thái độ và quyết định của trẻ (trong một số việc như chọn món ăn, thức uống, quần áo để mặc đi chơi… ), mặt khác cần đặt ra những hạn chế trong việc trẻ đòi hỏi người lớn chiều theo ý mình, mua sắm những món đồ chơi, đồ dùng phí phạm.
Ví dụ, bố mẹ cho bé đi vào siêu thị hay nhà sách, quyền lợi mà trẻ được hưởng có thể là việc tự do chọn cho mình một món đồ chơi ưa thích hay cuốn sách hấp dẫn, còn giới hạn là bé chỉ được phép chọn 1-2 món đồ đó thôi. Nếu trẻ mè nheo đòi thêm và được đáp ứng, sẽ tạo tiền đề cho một chuỗi các đòi hỏi khác, và cho đến một lúc nào đó thì không thể đáp ứng nổi.
Nhiều người nghĩ, đây là “chuyện nhỏ”, chiều trẻ một chút cũng không sao, nhưng đó chính là những viên gạch xây nên các tòa nhà vững chắc cho các tật xấu như tính ích kỷ, chỉ biết đến quyền lợi của bản thân, tham lam. Với những tính cách này, khi lớn lên trẻ sẽ gặp rất nhiều bất lợi vì không tạo được sự tôn trọng và hòa hợp với người xung quanh.
Trẻ ích kỷ
Với trẻ dưới 3 tuổi thì vấn đề ích kỷ chưa cần đặt ra, hay đúng hơn thái độ chỉ biết có bản thân lúc đó được gọi là ái kỷ (yêu bản thân mình) chứ không phải là ích kỷ (chỉ biết sự tiện ích, quyền lợi cho mình).
Trẻ dưới 3 tuổi phần lớn đều có tính ái kỷ, và đó là điều bình thường. Chính sự biết yêu bản thân mình là điều tiên quyết dẫn đến lòng tự trọng, biết bảo vệ mình trước những tác động từ bên ngoài. Vì lúc đó, trẻ chưa xác định được "cái tôi", sự phân biệt giữa những điều thuộc về người khác (kể cả cha mẹ) và những điều thuộc về mình chưa rõ ràng, khiến cho trẻ sẽ có thái độ “cái gì trong tay ta là của ta”. Đó không phải là sự chiếm hữu, vì chúng ta có thể đổi cho trẻ một món đồ khác có hình dáng hay công dụng tương tự mà trẻ vẫn chấp nhận.
Nhưng với trẻ 5-6 tuổi thì các em đã phân biệt được cái tôi, đã nhận biết được “quyền sở hữu”, đã muốn có những “tài sản riêng” và nếu không được rèn tập cho biết những giới hạn, trẻ có thể trở thành ích kỷ, chỉ biết đến những điều tốt, điều lợi cho bản thân mà không nghĩ đến những người xung quanh. 
Một mặt, bố mẹ khuyến khích trẻ biết quý trọng giá trị bản thân, mặt khác, cần phải để ý tránh cho trẻ tập nhiễm thói quen ích kỷ, vì khi đã “nhiễm” tính này thì rất khó bỏ. Điều nguy hiểm là đôi khi chính phụ huynh cũng có thái độ ích kỷ trong cuộc sống, và cho đó là sự “khôn ngoan”, tập cho trẻ thói quen biết và thích lợi dụng người khác, luôn tìm cách chơi “trên cơ”, chỉ biết bảo vệ quyền lợi bản thân và gia đình mình, bất chấp điều đó có thể gây thiệt hại cho người khác.
Thói ích kỷ sẽ làm cho đứa trẻ bị coi thường và bị tập thể bạn bè xa lánh. Đó là một nguy cơ lớn có thể dẫn đến những tổn thương về tâm lý cho trẻ. Vì một trong những điều làm cho cả trẻ lẫn người lớn lo lắng nhất, chính là sự tẩy chay hay bị cô lập với tập thể, với những người xung quanh.
Nhà tâm lý Lê Khanh

5 cách khen con tệ nhất

Khen con bằng cách so sánh con với một đứa trẻ khác có thể khiến bé thấy lời khen chẳng có giá trị gì. Vừa khen con vừa dự đoán, bạn có thể khiến trẻ bất an.
Ảnh: japantoday.com

Theo Rebecca Rickman, cây viết quen thuộc của trang Familyshare, chúng ta nên khuyến khích con trẻ bằng những lời khen ngợi. Tuy nhiên, bên cạnh những cách khen đúng vẫn có lời khen phản tác dụng. Trẻ em có thể nghe thấy một điều gì đó hoàn toàn khác xa so với những gì chúng ta định nói. Bé cũng nhớ từng lời chúng ta nói vì thế cần thận trọng trong việc dùng từ ngữ. Bạn cũng cần "uốn bảy tấc lưỡi" trước khi khen ngợi trẻ với những ngôn từ được chọn lọc cẩn thận để không làm ảnh hưởng tới lòng tự trọng của đứa trẻ.
Dưới đây là 5 cách khen ngợi trẻ mà chúng ta cần phải suy nghĩ cẩn thận trước khi định áp dụng:
1. So sánh
Trẻ em nên được đánh giá dựa trên những giá trị riêng của bé, chứ không phải là đánh giá theo những đứa trẻ khác. Vì thế đứa trẻ thấy những lời khen kiểu này là rất tầm thường.
Thay vì “Con thông minh như anh trai của con vậy”, bạn nên nói: "Con đã làm bài tập về nhà của mình rất tốt. Mẹ rất tự hào vì điểm số con đạt được". Thay vì nói: "Con xinh đẹp hơn tất cả cô bé khác trong đêm vũ hội này", bạn có thể nói: "Đêm nay con thật dễ thương. Con hãy nhớ mình là ai và biết mình muốn gì nhé”.
2. Khen kèm dự đoán
Đưa cho trẻ em những dự đoán không thực tế hoặc hơi cường điệu có thể khiến bé cảm thấy mình không hoàn thành được nhiệm vụ khi dự đoán của cha mẹ không được đáp ứng.
Thay vì nói: "Con gái mẹ thật xinh đẹp. Các chàng trai sẽ xếp hàng theo con dài đến tận góc đường", bạn có thể nói: "Con xinh đẹp lắm, vẻ đẹp đến từ tính nết hiền dịu của con". Thay vì nói: "Con rất hiểu biết về tiền bạc, con sẽ trở thành triệu phú năm con 20 tuổi", bạn có thể nói: "Biết cách quản lý tiền bạc sẽ giúp con rất nhiều khi lập gia đình riêng".
3. Lời khen ở mức tột bậc
Nói với trẻ rằng bé là người tốt nhất, đẹp nhất, giỏi nhất... có thể gây hại khi bé nhận ra sự thật không phải như vậy.
Thay vì nói: “Không có ai trên thế giới chơi đàn dương cầm hay hơn con", tốt hơn bạn hãy nói: "Bản nhạc con chơi có ý nghĩa đối với rất nhiều người". Thay vì: "Không tìm đâu ra người yêu con như cách mẹ yêu con đâu" (điều này có thể gây ra sự dự đoán không chính xác như đã nêu ở trên), mẹ nên nói: "Hãy tìm hiểu kỹ càng người con sẽ hẹn hò. Hãy dành thời gian để tìm kiếm một người xứng đáng với con".
4. Lời khen rụt rè
Đây là hành động đối lập với lời khen ở mức tột bậc, là khi bạn làm giảm bớt một thành tích nào đó của trẻ, khiến cho thành tích của trẻ bớt quan trọng.
Thay vì nói: "Đây là đội bóng văn nghệ hay nhất mẹ từng biết", bạn có thể nói: "Mẹ rất thích cách con đã dành thời gian và công sức để tập hát và biểu diễn. Mẹ thật sự ấn tượng". Thay vì nói: "Con vẫn xinh đẹp khi con tức giận", bạn có thể nói: "Dường như con đang bực bội vì việc gì đó. Con muốn nói gì phải không?" (Đây không phải là một lời khen nhưng dù sao nó cũng có ý nghĩa hơn câu nói trên).
5. Khen ngợi những điều không phải là các giá trị lâu dài
Việc tiết kiệm lời khen đối với những thứ không quan trọng là... rất quan trọng. Rất nhiều ông bố bà mẹ thường nói với con của mình: "Con thật xinh đẹp". Điều này chỉ có ý nghĩa trong trường hợp đặc biệt, bởi đây là giá trị có thể bị lấy đi bất cứ lúc nào. Quan trọng hơn là cho trẻ biết có nhiều điều ý nghĩa hơn là một khuôn mặt đẹp. Đổi lại, có một số lời khen dựa trên những đặc điểm tính cách có thể kéo dài. Những điều này có ích cho mọi người và có giá trị vĩnh cửu.
Ví dụ: Con là một người biết giúp đỡ người khác/ Mẹ thích cách con nghĩ tốt về mọi người/ Con khiến mẹ cười, mẹ thích được cười/ Con có rất nhiều ý tưởng hay.
Lời khen là rất quan trọng. Một ông bố từng nói "Nếu tôi khen vợ con mình, ngay lập tức họ sẽ dừng cố gắng". Thật là một bình luận sai lầm! Bởi lời khen nếu được đưa ra một cách cẩn thận khi bé đạt được thành tích hay cột mốc nào đó, bé sẽ biết rằng bé đang đi đúng đường, và nên tiếp tục. Vì thế, hãy suy nghĩ trước, sau đó hãy khen ngợi một cách hào hiệp nhưng phải thấu đáo.
Kim Kim (Theo Familyshare)