Các bước chuẩn bị giúp bé học giỏi Toán

Giỏi Toán thường được hiểu là đếm các số càng lên cao càng tốt, làm được các phép tính khó với thời gian càng nhanh càng tốt. Trong khi mục đích học Toán không phải chỉ có thế.
Theo phương pháp Montessori, chuẩn bị gián tiếp ngay từ nhỏ cho Toán học (từ 0 tuổi trở đi) cũng quan trọng không kém việc trực tiếp học Toán. Trẻ không học để ganh đua với một cái máy tính. Toán học không phải chỉ là các phép toán mà là các nguyên tắc toán học được áp dụng trong đời sống hàng ngày với trẻ mầm non, đó mới là bản chất quan trọng của Toán học. Và thật may là điều này thì tất cả bố mẹ đều có thể làm được một cách dễ dàng ở nhà, không tốn kém, chỉ cần có thời gian cho con.
Có thể giúp bé làm quen với toán từ những trò chơi đơn giản mỗi ngày. Ảnh minh họa: MT. 
Nguyên tắc tối quan trọng là chỉ làm một việc một lúc, làm từ đầu đến cuối giống như giải một bài toán sau này. Không bao giờ được đang chơi xếp hình lại bỏ đó chuyển sang chơi xâu hạt. Nếu không hoàn thành được những việc nhỏ sau này lớn trẻ khó mà tập trung làm được những việc mất nhiều thời gian hơn, đơn giản nhất là ngồi tập trung nghe cô được hết một tiết học khi vào lớp một. Nói như thế không có nghĩa là khi con chán chơi xếp hình thì cứ bắt con ngồi xếp. Khi bé không muốn xếp hình, hướng dẫn con xếp vào hộp, cất đi, xong mới lấy hoạt động xâu hạt ra làm.
Rèn cho trẻ tính kiên nhẫn, tự giải quyết các vấn đề từ dễ đến khó theo độ tuổi, không hơi tí đi nhờ người giúp vì nghĩ khó quá mình không làm được. Điều này rất khó với các bậc cha mẹ, những người quen nghĩ càng giúp con nhiều là càng thương con. Hãy nói với bé “Con thử suy nghĩ xem sao?”, “Mình phải làm sao bây giờ nhỉ?” hay “Chuyện gì sẽ xảy ra nếu con làm a hay b?”.
Tập cho trẻ có thói quen tư duy chính xác, bắt đầu bằng luôn gọi đúng tên mọi vật, sự việc, cảm xúc... Mưa rơi có thể là mưa tí tách, mưa xối xả, mưa lất phất... Sấm là sấm chứ không phải ông đùng. Hãy nói “Đúng 7h mình sẽ đi học con nhé”, thay vì “Nhanh lên nào muộn giờ của mẹ bây giờ”, “Con được xem nửa tiếng vô tuyến mỗi ngày và khi chuông reo là hết giờ", thay vì “Hết giờ xem rồi tắt ngay đi”.
Tập cho con tư duy logic. Khi bày bàn ăn nói “Con đếm xem nhà mình có bao nhiêu người, bao nhiêu người thì cần bấy nhiêu bát”. Ngoài ra còn có rất nhiều trò chơi bố mẹ có thể chơi trước khi đi ngủ với con. Đơn giản nhất là đưa ra hai lựa chọn để con chọn một “Con cá sống dưới nước hay trên bờ?”, “Ông mặt trời màu xanh hay màu đỏ?”... sau khó dần lên bằng việc bé phải tự nghĩ ra câu trả lời “Chim bay, cò bay, lợn có bay không nào?”, “Không?”, “Tại sao lợn lại không biết bay?”, “Vì nó không có cánh” là câu trả lời bạn đang chờ. Tùy theo tuổi bạn có thể hỏi dài hơi “Thế lợn có gì?”, “Lợn có chân”, "Chân để làm gì?", "Chân để đi", “Chân của lợn có biết chạy không?”, “Có”, “Lợn có mấy chân?” và để con đếm trong một bức tranh minh họa.
Giúp con học tính trật tự, đầu tiên mình làm a, sau đó đến b, sau đó c... để giúp con hiểu mọi việc được kết nối ra sao, giống như trật tự từng bước khi giải toán. Trẻ rất thích nghe các câu chuyện, xem clip về chính mình hồi bé. Bạn có thể kể, mẹ mang bầu con 9 tháng, bác sĩ bế con ra, tất cả mọi người đến thăm con, rồi 6 tháng con mọc hai cái răng đầu tiên... làm cho con album ảnh để con tự xem và tự đọc, tự kể về mình. Điều này áp dụng được với mọi người trong gia đình, mọi hoạt động bé làm hàng ngày như chuẩn bị ba lô đi học, chải răng...
Nếu bố mẹ có thời gian tự làm các cuốn sách nhỏ như vậy cho con học về bất cứ chủ đề nào bé chưa biết. Sau này bé sẽ rất dễ dàng học trật tự và các số thứ tự, thứ nhất, thứ hai, thứ ba, giờ trong ngày, ngày trong tuần, tháng trong năm, các mùa nối tiếp nhau trong năm thế nào... các trật tự hữu hình và vô hình.
Giúp con hiểu mối liên hệ nguyên nhân kết quả, chẳng hạn con không bê đồ bằng hai tay: đổ, vỡ. Con không đi cẩn thận: ngã. Con không ăn tối: đói... Như thế không phải là ác mà là để giúp con hiểu mọi hành động của mình đều dẫn đến một kết quả nhất định, có thể kết quả không như con mong muốn nhưng chính con đã chọn quyết định đó. Giống như khi làm toán. Không tư duy đúng thì kết quả sẽ sai. Tuy nhiên phải giúp con nhìn nhận rằng sai không phải là cái gì đó trầm trọng, chỉ là ngược lại với đúng. Trẻ cũng cần biết về sự đối lập, có to mới có nhỏ, có thừa mới có thiếu, có rộng mới có chật. Nếu hiểu được điều đó trẻ sẽ tự muốn làm đúng, và cùng lúc không sợ sai, dám nghĩ dám làm.
Đừng bao giờ phạt trẻ nếu trẻ không làm đúng hay đạt được kết quả như bạn muốn. Không em bé nào cố tình làm sai cả, mà chỉ là năng lực của bé tại thời điểm đó chưa làm được việc đó. Có thể do yêu cầu của bạn quá cao, có thể bé mệt không tập trung. Nguy hiểm hơn, khi phản ứng tiêu cực như thế sẽ làm cho bé luôn sợ hãi dẫn đến không dám thử những điều mới lạ sau này.
Tập thói quen tư duy, xử lý thông tin trước khi hành động. Đừng để trẻ thử đúng sai rồi rút ra kết luận. Ngay từ bé luôn làm mẫu cho bé các hoạt động một cách chính xác, làm mẫu thì phải chuẩn, sau khi hướng dẫn bé làm chưa đúng thì lần sau làm mẫu lại chứ không nhảy vào sửa khi con đang làm việc, bất cứ việc gì từ nhỏ đến lớn.
Hãy giúp con so sánh mọi thứ có thể, màu xanh nào đậm hơn, bông hoa nào nhiều cánh hơn, tòa nhà nào cao hơn, bộ lego nào khó hơn, cái xe nào chạy nhanh hơn, câu chuyện nào dài hơn, phòng nào trong nhà rộng hơn, con cá nào to hơn... sau đó đến so sánh hơn nhất. So sánh giúp trẻ hiểu bản chất sự việc, giúp rèn khả năng quan sát, tư duy, ra quyết định. Đó chính là áp dụng toán học vào cuộc sống một cách đơn giản.
Giúp trẻ học cộng trừ nhân chia theo đúng bản chất. Ví dụ của phép cộng: mỗi ngày con ăn một hộp sữa chua, cả tuần con ăn mấy hộp? Phép nhân: Một tuần con ăn 7 hộp sữa chua, vậy hai tuần con ăn bao nhiêu hộp. Để trẻ cộng 7 với 7, vì phép nhân chính là phép cộng đặc biệt mà thôi. Phép trừ: Con mua 7 hộp sữa chua, hôm nay là thứ 3, con đã ăn mất một hộp, trong tủ lạnh còn mấy hộp? Phép chia: Con mua 7 hộp sữa chua, có 7 ngày trong tuần, mỗi ngày con ăn mấy hộp? Và đương nhiên, đừng bảo trẻ mầm non cộng nhẩm, hãy giữ lại vỏ sữa chua, rửa sạch làm đồ dùng học toán. Nếu làm được cộng thì làm được nhân, làm được trừ thì làm được chia. Rất đơn giản và dễ hiểu. Và nếu các bố mẹ thầy cô làm được những điều tưởng như nhỏ nhặt trên đây em bé nào cũng sẽ mê toán vì toán học khi hiểu được bản chất lại trở thành đơn giản.
Lê Mai Hương
Nhà giáo Montessori

Bé hiếu động, coi chừng mắc tăng động giảm chú ý

Vợ chồng chị Hoa ăn xong, đứng dậy và thu dọn bàn, chỉ để lại bát cơm đang ăn dở cho Bin vì ngán cảnh phải quát cậu con vừa ăn vừa nghịch.
Bin vừa xúc cơm vừa đung đưa ghế. Chiếc ghế đổ rầm xuống đất. Cậu bé 5 tuổi đứng dậy mắm môi mắm lợi đá chân cho ghế lăn thêm mấy vòng. Chị Hoa quát: "Con dừng lại ngay, mẹ cho ăn đòn bây giờ". Bin tảng lờ, thậm chí còn đập muỗng vào ghế. Trong lúc mải "trừng trị" cái ghế, bé va người vào bàn khiến bát cơm đổ, canh lênh láng trên bàn. Mẹ bực quá, cầm cây đũa nấu ăn đánh vào mông con. Đó là chuyện thường ngày ở nhà chị Hoa (quận 5, TP HCM).

Trẻ hiếu động thái quá có thể mắc chứng tăng động giảm chú ý. Ảnh: pitterpatter
Vợ chồng chị Hoa nhiều lần cãi nhau vì tính hiếu động, nghịch ngợm nhưng cũng rất lì lợm của cậu con đầu lòng. Không có món đồ chơi nào của Bin có tuổi thọ quá một ngày. Cậu bé xem quảng cáo trên tivi xong cũng bắt chước đi từ lầu 2 xuống lầu 1 bằng đường... tay vịn cầu thang. Nhiều khi, chị Hoa có cảm giác con chẳng sợ cái gì. Ở lớp, cô giáo thường xuyên phàn nàn Bin không tập trung lúc học, không nghe lời cô, hay gây mất trật tự, bị bạn tẩy chay không thèm chơi chung…
Mỗi lần nghe vợ than thở không hiểu cậu nhóc giống ai mà nghịch thế, thì anh Luận lại cười khà khà cho rằng bé nhận được hết gen của bố. Hồi còn nhỏ, anh Luận nổi tiếng nghịch nhất xóm, hầu như ngày nào cũng bị ăn đòn vì tội phá phách trong nhà ngoài ngõ. Mới đây nghe lời khuyên của một người bạn là bác sĩ nhi, chị Hoa đưa Bin đi khám tâm lý và phát hiện ra bé bị mắc chứng tăng động giảm chú ý (ADHD - Attention-deficit hyperactivity disorder).
Theo các chuyên gia tâm lý, đa số phụ huynh không nghĩ là bé bị bệnh thật sự, cần phải được đưa đến khám và điều trị sớm, mà chỉ cho là bé hiếu động quá mức mà thôi. Thật sự không ít trẻ bị tăng động, giảm chú ý có chỉ số thông minh cao, nhưng kết quả học tập không tốt do trẻ kém chú ý, bất cẩn và hay quên.
Tăng động giảm chú ý là một trong những rối loạn phát triển thường gặp nhất ở trẻ em, với tỷ lệ mắc bệnh 3-17,6% tùy theo từng quốc gia, bệnh nhân nam nhiều gấp 3 lần nữ. Đó là những hành vi hiếu động thái quá như bồn chồn, vặn vẹo, hay chạy nhảy leo trèo, không thể ngồi yên, nói quá nhiều, vội trả lời trước khi chấm dứt câu hỏi, không kiên nhẫn chờ đến lượt mình, ngắt lời, quấy nhiễu người khác. Hành vi hiếu động có thể đơn thuần và hoặc đi kèm sự suy giảm khả năng chú ý, ví dụ lỗi bất cẩn, không lắng nghe, duy trì chú ý kém, không theo hướng dẫn, chần chừ, xao lãng, mất đồ vật, hay quên.
Trẻ mắc ADHD được chia theo 3 loại là rối loạn phối hợp tăng động và giảm chú ý; rối loạn trội về giảm chú ý; rối loạn trội về tăng động/ xung động. Trẻ ở dạng kém chú ý có tỷ lệ thấp hơn so với dạng rối loạn phối hợp vừa tăng động/ xung động và giảm chú ý.
Các chuyên gia khuyên khi trẻ có nhiều hơn 6 triệu chứng ở mỗi nhóm với thời gian kéo dài trên 6 tháng, thể hiện ở ít nhất hai môi trường trong và ngoài gia đình (như trường học, xã hội), phụ huynh hãy đưa trẻ đến các bệnh viện chuyên khoa tâm thần kinh - nhi để được chẩn đoán chính xác và điều trị hiệu quả nhất. Chẩn đoán là sự tổng hợp của các đánh giá thông tin từ cha mẹ, người chăm sóc trẻ, nhà trường, bản thân trẻ, trắc nghiệm IQ, khả năng chú ý, phát triển tâm thần, thể chất…
Tăng động giảm chú ý khởi phát trước 7 tuổi. Có đến 65% trẻ bị ADHD tiếp tục trải qua rối loạn này ở thời kỳ trưởng thành. Nếu phát hiện bệnh muộn thì khả năng chữa khỏi là vô cùng khó khăn. Các triệu chứng về lâu dài thường ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng học tập của trẻ, gây khó khăn trong tất cả các lãnh vực cuộc sống như quan hệ gia đình - xã hội,  thất bại trong nghề nghiệp, nghiện ngập, phạm pháp,...
Theo tiến sĩ SuSan Shur - Fen Gau, Chủ tịch Hiệp hội tâm thần Đài Loan, gia đình có vai trò rất quan trọng trong điều trị tăng động giảm chú ý. Nếu con mắc ADHD, cha mẹ cần phải thay đổi cách nghĩ và lối sống không thích hợp với trẻ (ví dụ chuyên quyền, độc đoán, đòn roi, bạo lực..); tuân thủ tuyệt đối các chỉ dẫn, huấn luyện của các bác sĩ, các chuyên gia trị liệu hành vi, tâm lý giáo dục.
Tăng động giảm chú ý không phải là rối loạn về tâm lý, do giáo dục hay môi trường sống không thuận lợi nên chỉ chẩn đoán và chữa trị bằng tâm lý giáo dục là không hiệu quả. Theo nghiên cứu khoa học, đây là bệnh lý có yếu tố di truyền, với sự khiếm khuyết được ghi nhận trong não của trẻ. Cách điều trị là phối hợp các trị liệu hành vi, nhận thức - hành vi, biện pháp tâm lý - giáo dục song hành với phác đồ điều trị bằng thuốc. Tùy theo độ tuổi, mức độ bệnh nặng nhẹ mà các hướng trị liệu được sắp xếp theo những ưu tiên khác nhau. Một số trường hợp bệnh nặng bắt buộc phải điều trị bằng thuốc để làm giảm triệu chứng giảm chú ý và tăng động. Nhờ đó làm giảm các hành vi tiêu cực ở lớp học, cải thiện kết quả trong học tập, kỹ năng tương tác xã hội, gia đình…
Không hiếm trẻ mắc chứng ADHD từ học sinh cá biệt đã trở thành học sinh xuất sắc khi được chẩn đoán sớm và điều trị một cách tối ưu toàn diện. Tiến sĩ Susan Shur-Fen Gao kể lại ca điều trị điển hình của mình là một bệnh nhân nam sinh năm 1993. Em bắt đầu điều trị từ khi học lớp 5. Từ một học sinh kém và sợ trường học, sau một năm điều trị tích cực với các huấn luyện trị liệu hành vi, giáo dục cho cha mẹ bệnh nhân, song hành với phác đồ điều trị thuốc phù hợp, bệnh nhân đã được chọn vào lớp khoa học xuất sắc của một trường trung học nổi tiếng.
Học cấp 3, bệnh nhân này tự bỏ thuốc, các triệu chứng nhanh chóng quay trở lại (khó tập trung, nghiện Internet, thích khiêu khích…) với kết quả học tập sa sút, thi hỏng vài môn… Khi tuân thủ nghiêm túc phác đồ điều trị, thành tích học tập của em đã trở lại tích cực cùng với các kỹ năng tương tác xã hội cải thiện rõ rệt. Em trở thành sinh viên ĐH Y khoa ở Đài Loan.
Theo các chuyên gia, nếu phát hiện sớm và kiểm soát tốt rối loạn hành vi này, hoàn toàn có thể cải thiện các chức năng xã hội và học tập của trẻ, giúp thúc đẩy sự phát triển bình thường các kỹ năng cá nhân, xã hội và học tập của bé.
Kim Kim

Giúp trẻ phát triển năng khiếu bẩm sinh

Khi phát hiện khả năng thiên bẩm của trẻ, cha mẹ hãy tập cho con trải nghiệm và tự khám phá theo cách của chúng bằng các bài kiểm tra
Theo thạc sĩ, bác sĩ Đinh Thạc, năng khiếu bẩm sinh hoặc thiên bẩm chính là khả năng đặc biệt, trẻ có thể làm được một việc gì đó khá hoàn hảo mà các bạn đồng trang lứa không làm được. Ví dụ ca hát, đọc thơ, múa hát, chơi đàn hoặc giải được những bài toán khó...
Năng khiếu bẩm sinh cũng là dấu hiệu tiên đoán nghề nghiệp của trẻ trong tương lai. Do đó phụ huynh cần lưu ý nhằm giúp con phát triển hoàn thiện hơn, cần định hướng nghề nghiệp cho trẻ nhằm giúp trẻ thành đạt khi trưởng thành.

Năng khiếu bẩm sinh cũng là dấu hiệu tiên đoán nghề nghiệp của trẻ trong tương lai. Ảnh: Thụy Ân.
Những biểu hiện chứng tỏ trẻ có khả năng đặc biệt hay năng khiếu bẩm sinh:
- Trẻ hay tò mò, thường xuyên hỏi cha mẹ bằng những câu hỏi cắc cớ.
- Biết đi, biết nói khá sớm.
- Sử dụng được đôi tay, và đôi khi là đôi chân, để thực hiện các động tác khó như gắp đồ vật nhỏ bằng các ngón chân.
- Sớm say mê với bảng chữ cái.
- Có sự hiểu biết về số học và các khái niệm thời gian khá thành thạo.
- Có khả năng giải được các bài toán đố tương đối khó so với tuổi của trẻ.
- Có khả năng cảm thụ nhạy bén và hưởng ứng mạnh mẽ với âm nhạc. Tiếp thu nhanh chóng các giai điệu, bài hát và thể hiện lại hết sức chính xác.
- Có khả năng ứng phó và biết cách lợi dụng hoàn cảnh bất lợi để vươn lên.
- Lộ vẻ thiếu kiên nhẫn trước những giới hạn vì cơ thể chưa đủ phát triển hoặc không thể đáp ứng.
- Có thể lựa chọn, sắp xếp, tổ chức, phân loại mọi vật và sau đó tự đặt tên cho chúng theo suy nghĩ riêng của trẻ.
- Hiểu được khái niệm nguyên nhân và kết quả, đáp ứng tốt, nhanh chóng với các hướng dẫn và thực hiện nhiều nhiệm vụ được giao hơn so với những bé khác.
- Sở hữu vốn từ vựng phong phú, có thể nói chuyện một cách mạch lạc khi còn nhỏ tuổi và biết cách diễn đạt bản thân bằng cách dùng các từ khó và các mẫu câu phức hợp.
- Có khả năng tập trung vào việc gì đó một thời gian khá dài.
- Có khả năng thuật lại một câu chuyện hay một sự kiện mạch lạc, rõ ràng và thậm chí sáng tạo phần kết ly kỳ nhưng vẫn hợp lý.
- Ghi nhớ chi tiết những sự kiện phức tạp để rồi có thể mô tả lại một cách sinh động sau một khoảng thời gian dài.
Những năng khiếu bẩm sinh thường gặp ở trẻ
Theo giáo sư Howard Gardner thuộc ĐH Harvard (Mỹ), có bảy dạng thiên khiếu thường gặp nhất ở trẻ em, được tổng kết từ một công trình nghiên cứu khoa học có giá trị ở Mỹ như sau:
1. Ngôn ngữ học
Những đứa trẻ được thiên phú cho khả năng ngôn ngữ sẽ tìm thấy niềm vui trong việc đọc sách, viết lách, kể chuyện hoặc chơi trò ô chữ.
2. Lôgic toán học
Bạn sẽ nhận thấy những đứa trẻ này rất say mê tìm hiểu mối liên hệ giữa các sự kiện, chủng loại khác với nhau. Những bài toán hóc búa, các cuộc thí nghiệm hấp dẫn hay trò chơi đòi hỏi nhiều tư duy chính là người bạn thân thiết nhất của chúng.
3. Thẩm mỹ cơ thể
Những đứa trẻ này sẽ học hỏi và truyền tải điều muốn thể hiện thông qua các chuyển động của cơ thể và sự cảm thụ bằng xúc giác. Chúng thường có thần tượng là các vũ công điêu luyện hay những thợ thủ công giỏi nghề.
4. Không gian
Những đứa trẻ này thường bị mê hoặc bởi trò chơi ghép hình hay các mê cung bí ẩn. Vẽ hay xây dựng những ngôi nhà nhiều tầng là thú vui mà chúng tìm đến mỗi khi rảnh rỗi.
5. Âm nhạc
Nhiều phụ huynh thường tin rằng con mình được trời phú cho khả năng âm nhạc xuất chúng chỉ vì trẻ thích hát hò và nhảy nhót khi còn thơ ấu. Nhưng thực tế những đứa trẻ có tài năng thật sự về âm nhạc lại chỉ để ý đến âm thanh mà người thường sẽ cho qua. Đôi tai của chúng rất khó tính khi gạn lọc, phân tích các thể loại âm nhạc và độ trầm bổng khác nhau của âm thanh. Chúng sẽ thường dành thời gian ngâm nga hay tạo bằng được các giai điệu cho chính mình.
6. Hướng ngoại
Đây là những nhà ngoại giao có cỡ. Chúng rất biết tạo ra và làm chủ mối quan hệ của mình với những bạn đồng trang lứa. Ngoài ra, trẻ còn có khả năng cảm nhận được cảm xúc của người khác cũng như rất biết cách khuyến khích và động viên.
7. Hướng nội
Những đứa trẻ này sẽ thường phân tích cảm xúc của bản thân hơn là người khác. Chúng rất nhạy cảm với những gì liên quan đến mình, và khá rụt rè. Nhìn chung, những em này có khả năng chìm đắm nhiều trong thế giới triết học.
Thụy Ân

Những cách đơn giản giúp bé ham học

Tạo không gian học tập yên tĩnh, thoáng mát, cho bé học vào thời điểm thích hợp, giúp con rèn khả năng ghi nhớ, tập trung qua việc nhỏ mỗi ngày, không trách mắng khi kèm bé học... là những cách giúp bé hứng thú với bài vở.
Trẻ kém tập trung khi học là hiện tượng khá phổ biến hiện nay. Ngoài lý do phụ huynh không thể thay đổi được là nội dung chương trình học mà ai cũng thấy là khô khan và nặng nề cũng như những hạn chế về năng lực sư phạm và tâm lý của giáo viên, có nhiều yếu tố góp phần làm trẻ kém tập trung trong việc học từ môi trường xung quanh đến năng lực của bản thân. Với những yếu tố này, bố mẹ có thể tác động để cải thiện tình trạng kém tập trung của trẻ. 
Thông thường, trẻ kém tập trung trong việc học bởi các lý do sau:
Lý do khách quan:
Không có không gian học tập thích hợp.
Bàn học không gọn gàng - thiếu dụng cụ học tập.
Thời điểm học tập không phù hợp hay thiếu ổn định.
Lý do chủ quan:
- Chưa có sự chuẩn bị tâm lý - thể chất.
- Không xác định mục tiêu học tập.
- Thiếu hứng thú, cảm thấy bị ép buộc.
Lý do bản thân:
Thiếu kỹ năng học tập.
- Thiếu kỹ năng tập trung.
- Thiếu kỹ năng ghi nhớ.
Ảnh minh họa: Gecko-wel.com.
Các phụ huynh có thể thay đổi và cải thiện các yếu tố này bằng cách:
Tạo một không gian học tập:
Không gian học tập không đơn thuần là cái bàn học, mà còn là khung cảnh xung quanh. Tùy theo điều kiện gia đình, nhưng bố mẹ hãy sắp xếp để trẻ có được:
- Một góc học tập tương đối yên tĩnh, thoáng mát, sáng sủa và không bị các hình ảnh xung quanh chi phối. Cần bố trí ánh sáng phù hợp (từ trên và từ bên trái phía sau chiếu đến).
- Trong giờ học, tránh việc cắt ngang (trẻ đang học chạy đi vệ sinh, uống nước, người giám sát việc học bỏ đi làm việc khác, anh chị em của trẻ đến bàn học nói chuyện...).
Bàn học thích hợp:
- Chuẩn bị đủ học cụ: bút, thước, hồ dán, kéo, giấy, sách học, không để tình trạng ngồi vào bàn rồi mới đi kiếm cái này cái nọ.
- Không bầy biện lung tung trên mặt bàn, chỉ để những gì cần thiết có liên quan đến bài học.
- Bàn học và ghế ngồi cần phù hợp với chiều cao của trẻ, tránh việc ngồi một cách gò bó, phải cố gắng trong việc viết và nhìn bài tập.
Thời điểm thích hợp:
- Thời điểm tốt nhất là vào đầu giờ chiều, trẻ sẽ nhớ tốt hơn. Nếu trẻ phải đi học cả ngày thì hãy sắp xếp để trẻ học và làm bài cách bữa ăn chiều ít nhất là một giờ (khoảng 7h30-8h30).
- Học tốt nhất khi có được đủ khoảng thời gian liên tục trong 20-30 phút và sau đó sẽ nghỉ ngơi 5-10 phút (uống nước, vệ sinh trong thời điểm này). Sau đó trước khi quay lại việc học, nên cho trẻ chơi một số trò trí tuệ, hỗ trợ cho việc nâng cao sự chú ý.
- Dừng học khi mệt mỏi hoặc bắt đầu thấy thiếu tập trung. Nghỉ 10 phút sau đó trở lại làm việc.
Chuẩn bị tâm lý học tập:
- Hãy giúp trẻ thực hiện một lịch hoạt động trong ngày, trong đó xác định rõ ràng thời gian học tập tại nhà mỗi ngày. Trước khi bước vào giờ học trẻ phải đánh dấu vào việc đã làm để thấy rõ là sau việc này sẽ đến giờ học.
- Tạo sự thoải mái, vui vẻ, không tạo những tình huống hay thông tin chi phối sự tập trung của trẻ trước giờ học như không la mắng các sai phạm (nếu có) của trẻ, không nói về buổi đi chơi cuối tuần hay một chương trình, một bộ phim hay...
Xác định mục tiêu học tập
Đặt mục tiêu rõ ràng cho buổi học, trả lời được các câu hỏi:
- Hôm nay học những bài gì: Ghi rõ tiêu đề bài học.
- Mục tiêu học hôm nay: Học bao nhiêu trang, làm bao nhiêu bài tập.
Bài học có thể chia làm 2-3 phần (nếu dài) hay không?
Các biện pháp để phát triển kỹ năng cho trẻ đến trường:
- Kỹ năng học tập:
Nếu trẻ chưa có thói quen ngồi vào bàn học trong những giờ nhất định, hãy tập ngồi vào bàn theo các nguyên tắc sau:
Trong tuần lễ đầu, mỗi buổi học chỉ dài tối đa 30 phút và có thể chia làm 2 (nghỉ giữa buổi khoảng 5 phút).
- Trong tuần lễ đầu nên xen kẽ các bài học và bài tập khả năng chú ý (dưới dạng trò chơi) mà trò chơi có thể chiếm một nửa thời gian học, để trẻ dần dần có tâm lý hứng thú với việc ngồi để học hơn.
- Khi trẻ đã có thói quen tự ý ngồi vào bàn học khi đến giờ, lúc đó mới nên gia tăng giờ học lên khoảng 1 giờ đến 1 giờ 30 (là tối đa).
- Hãy động viên, khích lệ những gì trẻ làm được, làm đúng trong giờ học, đừng chê bai, phê phán hay đánh mắng trẻ trong thời điểm này khi trẻ thất bại, khó tập trung, quên bài.
- Kỹ năng tập trung:
Kỹ năng tập trung không phải là một khả năng có thể đạt được trong một thời gian ngắn, mà phải giúp trẻ từng bước với các kỹ thuật sau:
- Khuyến khích và tạo điều kiện cho trẻ chơi các trò chơi nâng cao khả năng tập trung trong giờ học (trước - giữa giờ học) cũng như trong các giờ khác trong ngày tại gia đình.
- Tập cho trẻ nói lên: Yêu cầu trẻ nói: “Quay lại ngay đây”. Mỗi khi trẻ tỏ ra lơ đãng hãy yêu cầu trẻ nói ra câu nói này trước khi bắt đầu quay lại bài học. Đây là một kỹ thuật có tính ám thị, giúp tâm trí trẻ không “đi lang thang”.
- Tập cho trẻ làm các việc nhà (quét nhà, lau nhà, xếp quần áo, phụ dọn cơm, dọn dẹp trong gia đình). Điều này không những giúp trẻ nâng cao khả năng tập trung mà còn giúp trẻ phát triển khả năng tự tin vào bản thân.
- Tập cho trẻ viết tốt hơn: Chữ quá xấu hay có khó khăn trong việc viết cũng khiến trẻ chán nản, kém tập trung. Hãy tập cho trẻ ăn bằng đũa, cho các em dùng kéo cắt các hình, tập gấp giấy. Đây là những kỹ thuật hỗ trợ giúp trẻ khéo tay hơn.
Chúng ta cũng lưu ý để trẻ cầm bút cho đúng cách và tập vẽ các đường cơ bản (đường thẳng kéo dài trên trang giấy từ trái sang phải, đường xiên, đường móc, đường lượn sóng, đường zic zac). Vẽ mỗi ngày trong các giờ học thêm trên 1-3 trang giấy sẽ giúp trẻ cải thiện được nét chữ.
Kỹ năng ghi nhớ
Một yếu tố khiến trẻ khó tập trung là sự hạn chế về khả năng ghi nhớ. Vì vậy, sự luyện tập về khả năng ghi nhớ cũng là yếu tố giúp cho trẻ tập trung tốt hơn.
Lưu ý các nguyên tắc sau:
- Khi học bài (các bài môn Tiếng Việt, Lịch sử, Công dân...) cần có hình minh họa và sơ đồ tư duy đơn giản để diễn giải lại bài học qua các hình ảnh (học bằng mắt). Với các bài cần thuộc lòng thì việc vừa đọc vừa viết ra từng câu ngắn (học bằng thính giác, thị giác, xúc giác) sẽ giúp trẻ nhớ kỹ hơn.
- Khi làm các bài toán cũng cần có những minh họa cụ thể.
- Hãy khuyến khích trẻ tập tóm tắt bài học, diễn giải bài học thành các sơ đồ (tập cho trẻ biết dùng sơ đồ tư duy) và nói ra được ý chính của bài.
- Hãy nhớ ôn lại trước khi ngủ: Sau giờ học trẻ sẽ được nghỉ ngơi nhưng trước khi đi ngủ - trẻ cần xem và đọc lại các ý tóm tắt, xem sơ đồ minh họa bài học. Hoạt động này sẽ giúp cho trí não của bé ghi lại những gì cần nhớ trong khi ngủ.
- Vào buổi sáng, nếu có điều kiện cũng nên cho trẻ xem lại các phiếu ghi ý chính của bài học trước khi đến trường.
Ngoài ra, phụ huynh cũng nên biết rằng, mỗi trẻ có nhịp sống (hay đồng hồ sinh học) khác nhau, vì vậy nếu được hãy xếp giờ học của trẻ vào thời điểm nào trong ngày trẻ tỏ ra thoải mái, sung sức nhất. Vì nói chung thì có 2 loại tính cách. Một là mẫu người họa mi, có thói quen ngủ sớm, dậy sớm và hoạt động tốt vào buổi sáng. Thứ hai là mẫu người chim cú, có thói quen ngủ muộn, thức khuya và dậy trễ - hoạt động tốt vào buổi chiều và buổi tối.
Bố mẹ cần lưu ý con mình thuộc mẫu người nào để xếp đặt giờ học cho phù hợp. Dĩ nhiên điều này chỉ mang tính tương đối, nhưng nếu biết và vận dụng được, nó cũng góp phần đem lại hiệu quả cho việc học của trẻ.
Chuyên gia tâm lý Lê Khanh
Giám đốc Trung tâm tư vấn tâm lý - đào tạo kỹ năng Rồng Việt

Con học kém dù rất thông minh

Con tôi là một đứa trẻ khá thông minh nhanh nhẹn, trí nhớ tốt, chơi đố toán hay đố chữ bé đều trả lời đúng và nhanh. Tuy nhiên, ở trường lúc nào bé cũng bị điểm kém vì không hoàn thành bài vở trong thời gian quy định. 
Không bao giờ bé hoàn thành hết chương trình học một ngày, toàn mang về nhà. Hồi lớp 1, tôi cứ nghĩ do bé chưa quen đi học nên đã kiên nhẫn giúp con nhưng nay đã lớp 2 rồi, tình hình cũng không có gì khác.
Theo tôi quan sát, khi tập viết, bé chỉ viết một chữ ngắn (hoặc nửa chữ dài), sau đó là ngồi nhìn chỗ này chỗ kia, hoặc rờ tay, gãi đầu, gãi khắp người, khi được nhắc nhở bé mới viết tiếp. Nếu không có người nhắc, khoảng 5-10 phút sau bé mới tự động viết chữ kế tiếp. Tình trạng này lặp lại ở tất cả các môn học khác. Mặc dù bé thích đi học, yêu mến cô giáo, tự giác ngồi vào bàn đúng giờ nhưng hiệu suất làm việc lại rất kém.
Thậm chí khi nói chuyện với người khác, cũng thường xuyên xảy ra tình trạng bé nói chưa hết câu thì liền chuyển đề tài khác. Một đoạn đối thoại của bé chỉ dài khoảng 5 câu, sẽ có ít nhất 5 đề tài khác nhau được đề cập tới, dẫn đến việc bé không giao tiếp được với các bạn cùng lớp hay người lạ.
Trước giờ bé chỉ tập trung duy nhất trong việc vẽ và nặn đất sét. Bé có khả năng quan sát rất tốt, nhìn qua một vật là có thể vẽ lại, nặn đầy đủ từng chi tiết của vật đó. Bé có thể vừa vẽ, nặn, vừa kể các câu chuyện liên quan đến nhân vật bé đang vẽ, nặn, có khi đến nhiều tiếng đồng hồ vẫn không chán. Tôi rất lo lắng không biết những biểu hiện thiếu tập trung trong việc học của bé có bình thường hay không. Xin hướng dẫn tôi cách khắc phục, vì hiện nay tình hình điểm số ở trường của con rất tệ, có thể sẽ không lên lớp được. (Bình Nguyên)
Ảnh minh họa:Adkidsmodeling.com.
Trả lời
Theo chia sẻ của bạn thì trẻ có khá nhiều ưu điểm: thông minh nhanh nhẹn, thích đi học, yêu mến cô giáo, tự giác ngồi vào bàn học, khả năng quan sát tốt. Vấn đề bạn lo lắng là khả năng tập trung của trẻ. Đây cũng là nỗi lo của rất nhiều gia đình bởi trẻ ở lứa tuổi 6-7 tình trạng không tập trung trong học tập khá phổ biến. Do trẻ độ tuổi này chưa nhận thức được vai trò của việc học và tâm lý còn ham chơi, dễ bị phân tán chú ý bởi những sự vật sự việc xung quanh.
Tuy nhiên khả năng tập trung chú ý ảnh hưởng lớn đến kết quả học tập cũng như khả năng xã hội của trẻ, bởi vậy cần hết sức lưu ý vấn đề này. Bạn có thể tham khảo một vài gợi ý sau để cải thiện tình hình tập trung chú ý cho trẻ:
- Trước hết, việc rèn luyện khả năng tập trung cho trẻ không nên nóng vội và thúc ép. Cha mẹ hãy linh hoạt xen kẽ giữa học và chơi để trẻ hứng thú trong học tập, kiên nhẫn kèm cặp mỗi ngày giúp trẻ tăng dần thời gian tập trung.
- Bạn hãy giao tiếp nhiều với con, luôn chú ý yêu cầu con diễn đạt rõ ràng lần lượt từng mong muốn của mình, nếu trẻ nói lộn xộn nhiều đề tài một lúc hãy cương quyết nhắc trẻ phải diễn đạt lại từng nội dung nếu không sẽ không được mọi người hiểu ý và đáp ứng mong muốn.
- Không nên bắt trẻ nhớ nhiều nhiệm vụ học tập một lúc, nên đưa ra những nhiệm vụ đơn giản trước sau đó mới dần tăng cường số lượng và thời lượng các bài học.
- Hạn chế thời gian xem TV và chơi điện tử của trẻ bởi luôn có những thay đổi diễn ra liên tục trong các chương trình và trò chơi sẽ làm giảm khả năng tập trung tự nhiên của trẻ.
- Động viên trẻ luôn cố gắng hoàn thành xong việc này rồi mới chuyển sang việc khác. Duy trì thói quen thực hiện một nhiệm vụ cho đến cuối cùng là điều rất quan trọng để phát triển sự tập trung cho trẻ.
- Như bạn chia sẻ về sở thích của con thì hãy tận dụng chính những thế mạnh, sở thích này để tăng cường khả năng tập trung chú ý như: lồng ghép các hoạt động đếm số, tô màu, giao tiếp vào hoạt động vẽ và nặn đất sét…
- Bạn cũng có thể trao đổi với giáo viên để sắp xếp cho con vị trí ngồi phù hợp trong lớp, chẳng hạn ngồi bàn đầu, không gần cửa sổ...
- Bên cạnh đó cần lưu ý chế độ dinh dưỡng cho trẻ bởi khả năng tập trung chú ý có thể bị suy yếu nếu chế độ dinh dưỡng của trẻ thiếu chất sắt, chất khoáng, chất đạm, vitamin B1, B12 và quá thừa chất đường.
- Cuối cùng, nếu sau rất nhiều nỗ lực của gia đình mà trẻ không có chuyển biến tích cực thì bạn nên đưa trẻ đến các chuyên gia tâm lý để được đánh giá hỗ trợ kịp thời.
Nguyễn Thế Anh
Chuyên viên tâm lý, Trường mầm non Hoàng Gia

Tài năng của trẻ phát triển tốt nhất trước 6 tuổi

Theo các nhà nghiên cứu, tuổi vàng phát triển của trẻ là từ 0 đến 6 tuổi nên cần thực hiện những kích thích nhằm giúp bé bộc lộ tài năng sớm. Giáo dục mầm non vì thế phải chú trọng phát triển trí thông minh cho trẻ.
Bộ GD&ĐT vừa công bố thông tư ban hành quy chế công nhận trường mầm non đạt chuẩn quốc gia, trong đó có những tiêu chí như: 100% trẻ phải được bảo đảm an toàn về thể chất và tinh thần; không xảy ra dịch bệnh và ngộ độc thực phẩm; được khám sức khoẻ định kỳ; có ít nhất 85% trẻ phát triển bình thường về cân nặng và chiều cao theo tuổi....
Các chuyên gia giáo dục cho rằng, trong số điều kiện công nhận trường mầm non đạt chuẩn quốc gia còn thiếu tiêu chí về kết quả đào tạo trẻ dưới 5 tuổi. Theo những kết quả đã được công bố của Viện nghiên cứu phát triển trẻ thông minh sớm thì tiềm năng của một đứa trẻ được xác định trong những năm đầu, từ giây phút đầu tiên của cuộc sống đến những năm tháng chăm sóc ở gia đình và cơ sở nuôi dạy trẻ.

Giai đoạn mẫu giáo rất quan trọng trong việc phát triển tiềm năng của trẻ. Ảnh: Thi Trân.
Trong một hội thảo về trẻ thông minh sớm, tiến sĩ Phạm Mai Chi cho biết, các nghiên cứu và tìm hiểu về não bộ trẻ cho kết quả: một nửa sự phát triển quan trọng của não bộ ở đứa trẻ được hoàn thành vào thời điểm nó bắt đầu học mẫu giáo. Đặc biệt, trẻ em có các mạch thần kinh nếu không được kích thích trước khi học mẫu giáo thì sẽ không bao giờ có được sự thông minh đáng có. Bà cho rằng, 0-6 tuổi là thời kỳ vàng, cửa sổ của các cơ hội giáo dục khai mở tiềm năng cho trẻ.
Thời kỳ tốt nhất để phát triển sự gắn bó về mặt xã hội và tiếng nói của trẻ là trước 2 tuổi, nhận biết chữ là trước 3 tuổi và học đếm là trước 4 tuổi. Tiến sĩ Mai Chi cho hay bộ não trẻ ngay từ sơ sinh đã có những tiềm năng đáng kinh ngạc: lúc mới sinh trọng lượng não bằng 25% não người trưởng thành, 9 tháng tuổi gấp đôi so với não sơ sinh, 3 tuổi gấp 4 lần lúc mới sinh và 6 tuổi hầu như hoàn thiện về cấu trúc.
Bà dẫn lời A.Makarenko từng dự đoán nền móng của giáo dục được xây dựng vững chắc từ trước 5 tuổi, nó chiếm 90% cả quá trình giáo dục. Thực chất, đó là giáo dục khai phá và phát triển tiềm năng của con người. 
Quy luật “tài năng thuyên giảm” tồn tại trong quá trình phát triển tài năng và tố chất của trẻ em.
Giáo sư Shichida (Nhật Bản) từ những năm 1950 đã dành nhiều thời gian nghiên cứu về phương pháp giáo dục mầm non. Những phát hiện và kết luận của ông đã làm xôn xao dư luận với phương pháp giáo dục sớm cho trẻ được nhiều trường mầm non áp dụng. Theo đó, khoa học đã chứng minh rằng, não người phát triển với tốc độ cao nhất là trong giai đoạn sơ sinh, và quá trình phát triển gần như được hoàn thành khi ta 12 tuổi. Chính vì vậy, thực hiện những kích thích nhằm giúp bé có thể bộc lộ tài năng nên bắt đầu càng sớm thì hiệu quả càng cao. 
Mặt khác, ở não phải có một đường dẫn (vừa là đường đi của năng lượng cơ thể, vừa là nơi xử lý thông tin), khi bé được 6 tuổi thì đường dẫn này sẽ được hình thành một cách toàn vẹn. Chính vì thế mà khả năng để phát triển những tài năng của trẻ sẽ giảm đi một cách nhanh chóng cùng với độ tuổi của bé.
Giáo sư Shichida cũng đã công bố nghiên cứu về sự quan trọng của “Chế độ dinh dưỡng” từ năm 1980. Với kinh nghiệm của bản thân, ông khẳng định thực phẩm dinh dưỡng và sự phát triển của não bộ là những thứ không thể tách rời. Khái niệm “Chế độ dinh dưỡng” đã được áp dụng vào lĩnh vực giáo dục. Ông cũng cân nhắc những tác động, kích thích tích cực để giúp não bộ phát triển một cách toàn diện mà không tạo ra sự chênh lệch giữa não trái và não phải.
"Các bài tập thể dục và chế độ dinh dưỡng thích hợp cần được quan tâm vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển tinh thần và thể chất của trẻ. Bên cạnh đó, giáo dục mầm non, mẫu giáo cần đặt mục tiêu quan trọng là giáo dục toàn bộ nhân cách và nuôi dưỡng tâm hồn trẻ, dạy bé những kỹ năng cần thiết trong cuộc sống, các quy tắc xã hội, cũng như việc phát triển những cảm xúc và tinh thần cộng đồng", một chuyên gia nghiên cứu về phát triển thông minh sớm cho trẻ nói.
Kiều Trinh

Lý do không nên bỏ mặc bé khóc

Nhiều bà mẹ trẻ được khuyên cách tốt nhất để đối phó với việc bé khóc dai là mặc kệ, rồi bé sẽ tự nín. Nhưng điều này có thể gây hại cho sự phát triển tâm lý và cảm xúc của trẻ.
Dưới đây là 6 lý do Sg.theasianparent.com giải thích tại sao phớt lờ tiếng khóc của con không phải là ý kiến hay.
Khóc là cách giao tiếp duy nhất của bé
Trước khi phát triển kỹ năng ngôn ngữ, cách để trẻ biểu lộ cảm xúc là thông qua việc khóc hay cười. Cả hai trạng thái này đều diễn ra tự nhiên và là cách duy nhất để trẻ giao tiếp. Việc bị bỏ mặc khi khóc không khiến trẻ hiểu là chỉ mỉm cười mới thu hút sự chú ý của người lớn còn khóc sẽ bị phớt lờ.
Ảnh minh họa: Sg.theasianparent.com.
Mặc kệ tiếng khóc có thể làm giảm hiệu quả ngôn ngữ nói của trẻ
Khi bố mẹ phớt lờ tiếng con khóc, trẻ sẽ được dạy là bé không có quyền bày tỏ sự không hài lòng. Điều này có thể ảnh hưởng tới sự phát triển kỹ năng nói của trẻ. Kết quả là, trẻ có thể gặp khó khăn trong việc hiểu cảm xúc của chính mình và do đó có vấn đề về sắp xếp trật tự từ.
Cảm xúc không vui có thể bị dập tắt
Khi tiếng khóc của một em bé bị phớt lờ cũng là dấu hiệu cho thấy cảm xúc không vui là điều gì đó không được quan tâm. Khi bé lớn lên, trẻ sẽ lựa chọn hình thức giữ lại cảm xúc không vui trong nội tâm, gây ức chế và sẽ cản trở sự phát triển tâm lý lành mạnh sau này trong cuộc sống.
Đánh giá thấp cảm xúc của trẻ
Phớt lờ tiếng khóc của một đứa trẻ sẽ gửi tới bé thông điệp rằng cảm xúc của em không quan trọng. Điều này có thể tác động lớn nhất tới cả trẻ và cha mẹ chúng khi trẻ ở tuổi vị thành niên. Khi cảm xúc của trẻ bị đánh giá thấp trong những năm đầu hình thành nhân cách, như tuổi teen, trẻ có thể không thấy tầm quan trọng của việc giao tiếp cởi mở với bố mẹ mình.
Trẻ học cách phớt lờ những người bơ vơ
Khi trẻ cố gắng hiểu thế giới phức tạp đang sống, chúng thường khái quát hóa những điều mình quan sát được. Khi tiếng khóc của trẻ bị phớt lờ, chúng nghĩ thế giới này không phải là nơi giàu lòng nhân ái, có sự đồng cảm, chia sẻ và những người bất hạnh, không nơi nương tựa sẽ bị bỏ mặc. Nếu bạn muốn con lớn lên biết động lòng trắc ẩn và có sự sẻ chia, đừng giấu giếm cảm xúc hay sự chú ý khi bé phiền muộn, khó chịu.
Khóc là bản năng tự nhiên
Luôn có hậu quả tiêu cực cho việc phớt lờ hay ức chế các bản năng tự nhiên, mạnh mẽ nhất của mỗi chúng ta. Những trẻ sơ sinh khóc dai dẳng có mức hoóc môn căng thẳng cao bất thường và hoóc môn tăng trưởng thấp hơn. Điều này ức chế sự phát triển của các mô thần kinh trong não, kìm nén sự phát triển, và làm trì trệ hệ thống miễn dịch.
Một nghiên cứu do các nhà khoa học tại Trường y Harvard và trường Yale (Mỹ) cho thấy căng thẳng quá mức ở một đứa trẻ suốt những tháng đầu đời có thể thay đổi hệ thống dẫn truyền thần kinh não và gây ra những thay đổi về cấu trúc, chức năng bộ não tương tự như những gì gặp ở người lớn bị trầm cảm.
Khóc là bản năng tự nhiên của trẻ em. Đôi khi nó chỉ là sự kêu gọi chú ý chứ không báo hiệu điều gì nghiêm trọng. Dù là như vậy, đó cũng là một nhu cầu chính đáng. Hãy xem con cần gì trước khi phớt lờ tiếng khóc của con.
Vậy có cần phải ngay lập tức vỗ về hay đáp ứng nhu cầu của trẻ khi con khóc? Không cần thiết. Nhưng đừng bỏ mặc trẻ và hãy thể hiện sự đồng cảm. Chẳng hạn, nếu bé tuổi mầm non của bạn muốn ăn kẹo vào bữa sáng, và bạn không đồng ý, rồi con khóc, không cần phớt lờ con hay vội đưa ngay kẹo cho bé. Bạn có thể thử nói: "Mẹ biết con buồn vì không được ăn kẹo. Mẹ biết con thực sự muốn ăn kẹo, nhưng nó không tốt cho sức khỏe nếu ăn kẹo thay bữa sáng. Mẹ muốn con được khỏe mạnh".
Khi bạn nói điều gì đó tương tự cách trên, bạn vừa tỏ ra hiểu tâm trạng của con vừa vẫn ghi nhận cảm xúc của bé. Bằng cách không phớt lờ sự thất vọng của bé sơ sinh hay trẻ nhỏ, bạn sẽ tạo lập được nền tảng cảm xúc mạnh mẽ cho con để lớn lên trẻ trở thành người có tâm lý vững vàng, toàn diện.
Vương Linh

Những tính cách khó chịu của bé cần được điều chỉnh sớm

Sự nghịch ngợm thái quá, tính nhõng nhẽo, ích kỷ... của trẻ thường khiến không ít phụ huynh phiền lòng và thấy "khó chữa".
Bên cạnh thuận lợi về sự phát triển của cơ thể và hệ thần kinh khiến cho trẻ có thể dễ dàng tiếp nhận kiến thức cần thiết cho việc bước vào nhà trường, lứa tuổi 4-6, cái tôi của trẻ đã hình thành rõ nét. Điều này khiến trẻ ý thức khá rõ về những “quyền lợi” và “thế mạnh” của mình. Vì thể trẻ dễ có những tình trạng như: hiếu động - nghịch ngợm, nhõng nhẽo, nhút nhát... hoặc trở nên biếng ăn, kén ăn hay có nguy cơ béo phì.
Trẻ quá hiếu động
Thông thường, khi bước vào lứa tuổi 4-6, trẻ có rất nhiều năng lượng do chưa phải tập trung nhiều vào học tập, các cơ quan đang trên đà “liên tục phát triển”. Vì vậy, nhất là đối với bé trai thì việc nghịch ngợm, leo trèo, chạy nhảy và cả phá phách đều được xem là bình thường. Thế nhưng cũng có trẻ sự năng động đó phát triển đến mức “ngoài tầm kiểm soát” của bố mẹ và cả với chính bé. Đây là tình trạng mà ta gọi là hiếu động thái quá hay rối loạn vận động.
Ảnh minh họa: Huffingtonpost.com.
Cần phân biệt hai tình trạng khác nhau của trẻ như sau:
Trẻ có tính khí năng động: Do trẻ có nhiều xung năng, cá tính hướng ngoại nên thường xuyên chạy nhảy, chơi đùa nhưng vẫn có khả năng giao tiếp và có quan hệ tốt với người xung quanh. Trẻ có sự hiểu biết và có thể ngồi chơi một cách tập trung trong một số trò chơi ưa thích trên 15 phút. Đây là tình trạng bình thường, chỉ cần có những tác động và cách ứng xử thích hợp giúp trẻ điều chỉnh một số hành vi quá đáng.
Bố mẹ có thể giúp trẻ phát triển nhiều kỹ năng tốt thông qua các trò chơi vận động. Cần sắp xếp cho trẻ có không gian thích hợp (là khu vực được phép chơi thoải mái trong nhà) cùng với việc tập cho trẻ tham gia hoạt động trong nhà như phụ giúp bố rửa xe, tưới cây, phụ mẹ dọn dẹp và chuẩn bị bữa ăn... Những điều đó giúp trẻ vừa có điều kiện “xả năng lượng” vừa nâng cao sự tự tin vào khả năng của mình.
Trẻ hiếu động - kém tập trung: Trẻ thường xuyên có tình trạng lăng xăng do không có khả năng tập trung vào một điều gì, dù chỉ là ngồi chơi 5-10 phút, khả năng giao tiếp, hiểu biết rất kém và thường có tình trạng chậm nói. Chúng ta gọi đó là hội chứng Tăng động - giảm chú ý (Attention deficit hyperactivity disorder, gọi tắt là ADHD).
Để phân biệt, ngoài những dấu hiệu như chậm nói, hay không có trí nhớ ngắn hạn, thường có hành vi lập lại, thì một trẻ có hội chứng ADHD hầu như không thể ngồi yên trong bất cứ hoàn cảnh nào (ăn uống, vui chơi…) quá 5 phút. Trong khi đó trẻ hiếu động do tính khí có thể ngồi yên chơi một trò chơi hay chơi games một cách say mê từ 10 phút cho đến nửa giờ hoặc hơn. Khi nghi ngờ hay thấy trẻ có những dấu hiệu của ADHD, phụ huynh cần đưa con đến các nhà chuyên môn về tâm lý để có chẩn đoán chính xác về mức độ và biện pháp can thiệp thích hợp.
Trẻ lười biếng
Trái ngược với tình trạng hiếu động, có những bé tỏ ra lười biếng trong mọi hoạt động. Có thể đó là do trẻ có sức khỏe kém, suy nhược dẫn đến những phản ứng chậm chạp lâu dần thành thói quen, nhưng đa phần là do sự chăm sóc, cưng chiều hơi thái quá của mẹ hay ông/bà khiến cho trẻ hầu như không phải làm một điều gì ngay cả việc tự chăm sóc bản thân.
Điều này có thể chấp nhận với những trẻ dưới 3 tuổi, khi khả năng vận động tinh chưa thuần thục, khiến trẻ dễ gây đổ vỡ hoặc vụng về. Nhưng trẻ 5 tuổi bình thường, đã hoàn thiện về các chức năng vận động, người lớn phải tập cho bé biết tự ăn, tự làm vệ sinh cá nhân và luôn khuyến khích trẻ tham gia hoạt động chung với các thành viên khác trong gia đình, có thể làm một số công việc nhẹ nhàng phụ giúp bố mẹ.
Việc cưng chiều trẻ, để trẻ không phải làm một việc gì khác ngoài vui chơi và học tập là không nên, vì đó là mầm mống cho những thái độ và hành vi không thích nghi với môi trường bên ngoài, trong đó có trường tiểu học. Qua đó, bé sẽ trở nên lười biếng và ích kỷ, không biết tham gia các hoạt động chung với mọi người và sẽ có những khó khăn trong việc giao tiếp, ứng xử với bạn bè khi vào lớp một.
Có thể, ban đầu sự lười biếng đó chỉ đơn giản là việc thức dậy trễ, làm biếng đánh răng, rửa mặt, tắm rửa… dần dần sẽ đi đến việc lười gấp màn, chăn gối và quần áo cá nhân. Từ đó, trẻ sẽ tỏ ra lười biếng trong việc xếp dọn đồ chơi, đồ dùng cá nhân trong phòng... Từng bước một, nếu không có biện pháp tác động và can thiệp kịp thời, mức độ lười biếng của trẻ ngày càng tăng cho đến khi bố mẹ, người thân cảm thấy không còn chịu đựng nổi nữa. Lúc đó việc tác động để điều chỉnh sẽ hết sức khó khăn, có thể gây ra tổn thương tâm lý, hay tạo ra những trở ngại trong các mối quan hệ gia đình, rất khó thay đổi khi trẻ lớn hơn.
Trẻ nhõng nhẽo
Có những trẻ nếu không hiếu động, nghịch ngợm thì lại trở nên nhõng nhẽo, đòi hỏi sự chăm sóc quá mức cần thiết và luôn mong muốn mọi người phải làm theo, phải chấp nhận đòi hỏi của bản thân, điều đó khiến cho khả năng ứng xử của trẻ trở nên kém cỏi và thụ động… Đa phần các vấn đề về thái độ là rơi vào bé gái.
Trẻ nhõng nhẽo đa phần do sự “tập luyện” của bố mẹ và đôi khi có sự hỗ trợ khá đắc lực của ông bà. Trong trường hợp này, muốn làm giảm sự nhõng nhẽo của trẻ rất khó khăn.
Trẻ nhõng nhẽo trong một chừng mực nào đó có vẻ dễ thương, nhất là với các bé gái xinh xắn thì chút nhõng nhẽo sẽ làm cho các em tạo được sự quan tâm nhiều hơn, và đó cũng được xem là một thế mạnh của bé. Thế nhưng, từ sự dễ thương để đi đến thói đành hanh và khiến bạn bè, anh chị em xa lánh vì sự quá đáng của mình chỉ là một bước nhỏ.
Với các bé gái và cả bé trai trong độ tuổi 3-5 tuổi, tình trạng nhõng nhẽo thường không kiểm soát, không kìm chế được. Các bé luôn ở trong tình trạng được voi đòi tiên, được một muốn hai… dễ đi đến một cuộc “chiến tranh” giữa bé và người lớn mà đa phần chiến thắng lại thuộc về trẻ.
Từ khi trẻ bước vào lứa tuổi 3-5 thì việc đặt ra mức độ để hạn chế nhu cầu không cần thiết của bé là cực kỳ quan trọng. Một mặt bố mẹ để cho bé tự giác trong các hoạt động cá nhân để hình thành sự tự tin qua việc tôn trọng thái độ và quyết định của trẻ (trong một số việc như chọn món ăn, thức uống, quần áo để mặc đi chơi… ), mặt khác cần đặt ra những hạn chế trong việc trẻ đòi hỏi người lớn chiều theo ý mình, mua sắm những món đồ chơi, đồ dùng phí phạm.
Ví dụ, bố mẹ cho bé đi vào siêu thị hay nhà sách, quyền lợi mà trẻ được hưởng có thể là việc tự do chọn cho mình một món đồ chơi ưa thích hay cuốn sách hấp dẫn, còn giới hạn là bé chỉ được phép chọn 1-2 món đồ đó thôi. Nếu trẻ mè nheo đòi thêm và được đáp ứng, sẽ tạo tiền đề cho một chuỗi các đòi hỏi khác, và cho đến một lúc nào đó thì không thể đáp ứng nổi.
Nhiều người nghĩ, đây là “chuyện nhỏ”, chiều trẻ một chút cũng không sao, nhưng đó chính là những viên gạch xây nên các tòa nhà vững chắc cho các tật xấu như tính ích kỷ, chỉ biết đến quyền lợi của bản thân, tham lam. Với những tính cách này, khi lớn lên trẻ sẽ gặp rất nhiều bất lợi vì không tạo được sự tôn trọng và hòa hợp với người xung quanh.
Trẻ ích kỷ
Với trẻ dưới 3 tuổi thì vấn đề ích kỷ chưa cần đặt ra, hay đúng hơn thái độ chỉ biết có bản thân lúc đó được gọi là ái kỷ (yêu bản thân mình) chứ không phải là ích kỷ (chỉ biết sự tiện ích, quyền lợi cho mình).
Trẻ dưới 3 tuổi phần lớn đều có tính ái kỷ, và đó là điều bình thường. Chính sự biết yêu bản thân mình là điều tiên quyết dẫn đến lòng tự trọng, biết bảo vệ mình trước những tác động từ bên ngoài. Vì lúc đó, trẻ chưa xác định được "cái tôi", sự phân biệt giữa những điều thuộc về người khác (kể cả cha mẹ) và những điều thuộc về mình chưa rõ ràng, khiến cho trẻ sẽ có thái độ “cái gì trong tay ta là của ta”. Đó không phải là sự chiếm hữu, vì chúng ta có thể đổi cho trẻ một món đồ khác có hình dáng hay công dụng tương tự mà trẻ vẫn chấp nhận.
Nhưng với trẻ 5-6 tuổi thì các em đã phân biệt được cái tôi, đã nhận biết được “quyền sở hữu”, đã muốn có những “tài sản riêng” và nếu không được rèn tập cho biết những giới hạn, trẻ có thể trở thành ích kỷ, chỉ biết đến những điều tốt, điều lợi cho bản thân mà không nghĩ đến những người xung quanh. 
Một mặt, bố mẹ khuyến khích trẻ biết quý trọng giá trị bản thân, mặt khác, cần phải để ý tránh cho trẻ tập nhiễm thói quen ích kỷ, vì khi đã “nhiễm” tính này thì rất khó bỏ. Điều nguy hiểm là đôi khi chính phụ huynh cũng có thái độ ích kỷ trong cuộc sống, và cho đó là sự “khôn ngoan”, tập cho trẻ thói quen biết và thích lợi dụng người khác, luôn tìm cách chơi “trên cơ”, chỉ biết bảo vệ quyền lợi bản thân và gia đình mình, bất chấp điều đó có thể gây thiệt hại cho người khác.
Thói ích kỷ sẽ làm cho đứa trẻ bị coi thường và bị tập thể bạn bè xa lánh. Đó là một nguy cơ lớn có thể dẫn đến những tổn thương về tâm lý cho trẻ. Vì một trong những điều làm cho cả trẻ lẫn người lớn lo lắng nhất, chính là sự tẩy chay hay bị cô lập với tập thể, với những người xung quanh.
Nhà tâm lý Lê Khanh

5 cách khen con tệ nhất

Khen con bằng cách so sánh con với một đứa trẻ khác có thể khiến bé thấy lời khen chẳng có giá trị gì. Vừa khen con vừa dự đoán, bạn có thể khiến trẻ bất an.
Ảnh: japantoday.com

Theo Rebecca Rickman, cây viết quen thuộc của trang Familyshare, chúng ta nên khuyến khích con trẻ bằng những lời khen ngợi. Tuy nhiên, bên cạnh những cách khen đúng vẫn có lời khen phản tác dụng. Trẻ em có thể nghe thấy một điều gì đó hoàn toàn khác xa so với những gì chúng ta định nói. Bé cũng nhớ từng lời chúng ta nói vì thế cần thận trọng trong việc dùng từ ngữ. Bạn cũng cần "uốn bảy tấc lưỡi" trước khi khen ngợi trẻ với những ngôn từ được chọn lọc cẩn thận để không làm ảnh hưởng tới lòng tự trọng của đứa trẻ.
Dưới đây là 5 cách khen ngợi trẻ mà chúng ta cần phải suy nghĩ cẩn thận trước khi định áp dụng:
1. So sánh
Trẻ em nên được đánh giá dựa trên những giá trị riêng của bé, chứ không phải là đánh giá theo những đứa trẻ khác. Vì thế đứa trẻ thấy những lời khen kiểu này là rất tầm thường.
Thay vì “Con thông minh như anh trai của con vậy”, bạn nên nói: "Con đã làm bài tập về nhà của mình rất tốt. Mẹ rất tự hào vì điểm số con đạt được". Thay vì nói: "Con xinh đẹp hơn tất cả cô bé khác trong đêm vũ hội này", bạn có thể nói: "Đêm nay con thật dễ thương. Con hãy nhớ mình là ai và biết mình muốn gì nhé”.
2. Khen kèm dự đoán
Đưa cho trẻ em những dự đoán không thực tế hoặc hơi cường điệu có thể khiến bé cảm thấy mình không hoàn thành được nhiệm vụ khi dự đoán của cha mẹ không được đáp ứng.
Thay vì nói: "Con gái mẹ thật xinh đẹp. Các chàng trai sẽ xếp hàng theo con dài đến tận góc đường", bạn có thể nói: "Con xinh đẹp lắm, vẻ đẹp đến từ tính nết hiền dịu của con". Thay vì nói: "Con rất hiểu biết về tiền bạc, con sẽ trở thành triệu phú năm con 20 tuổi", bạn có thể nói: "Biết cách quản lý tiền bạc sẽ giúp con rất nhiều khi lập gia đình riêng".
3. Lời khen ở mức tột bậc
Nói với trẻ rằng bé là người tốt nhất, đẹp nhất, giỏi nhất... có thể gây hại khi bé nhận ra sự thật không phải như vậy.
Thay vì nói: “Không có ai trên thế giới chơi đàn dương cầm hay hơn con", tốt hơn bạn hãy nói: "Bản nhạc con chơi có ý nghĩa đối với rất nhiều người". Thay vì: "Không tìm đâu ra người yêu con như cách mẹ yêu con đâu" (điều này có thể gây ra sự dự đoán không chính xác như đã nêu ở trên), mẹ nên nói: "Hãy tìm hiểu kỹ càng người con sẽ hẹn hò. Hãy dành thời gian để tìm kiếm một người xứng đáng với con".
4. Lời khen rụt rè
Đây là hành động đối lập với lời khen ở mức tột bậc, là khi bạn làm giảm bớt một thành tích nào đó của trẻ, khiến cho thành tích của trẻ bớt quan trọng.
Thay vì nói: "Đây là đội bóng văn nghệ hay nhất mẹ từng biết", bạn có thể nói: "Mẹ rất thích cách con đã dành thời gian và công sức để tập hát và biểu diễn. Mẹ thật sự ấn tượng". Thay vì nói: "Con vẫn xinh đẹp khi con tức giận", bạn có thể nói: "Dường như con đang bực bội vì việc gì đó. Con muốn nói gì phải không?" (Đây không phải là một lời khen nhưng dù sao nó cũng có ý nghĩa hơn câu nói trên).
5. Khen ngợi những điều không phải là các giá trị lâu dài
Việc tiết kiệm lời khen đối với những thứ không quan trọng là... rất quan trọng. Rất nhiều ông bố bà mẹ thường nói với con của mình: "Con thật xinh đẹp". Điều này chỉ có ý nghĩa trong trường hợp đặc biệt, bởi đây là giá trị có thể bị lấy đi bất cứ lúc nào. Quan trọng hơn là cho trẻ biết có nhiều điều ý nghĩa hơn là một khuôn mặt đẹp. Đổi lại, có một số lời khen dựa trên những đặc điểm tính cách có thể kéo dài. Những điều này có ích cho mọi người và có giá trị vĩnh cửu.
Ví dụ: Con là một người biết giúp đỡ người khác/ Mẹ thích cách con nghĩ tốt về mọi người/ Con khiến mẹ cười, mẹ thích được cười/ Con có rất nhiều ý tưởng hay.
Lời khen là rất quan trọng. Một ông bố từng nói "Nếu tôi khen vợ con mình, ngay lập tức họ sẽ dừng cố gắng". Thật là một bình luận sai lầm! Bởi lời khen nếu được đưa ra một cách cẩn thận khi bé đạt được thành tích hay cột mốc nào đó, bé sẽ biết rằng bé đang đi đúng đường, và nên tiếp tục. Vì thế, hãy suy nghĩ trước, sau đó hãy khen ngợi một cách hào hiệp nhưng phải thấu đáo.
Kim Kim (Theo Familyshare)

Tập cho trẻ ăn cơm đúng cách

Quan niệm muốn cháu mau cứng cáp, mẹ chồng chị Xuân (quận 2, TP HCM) cho bé Cún ăn cơm từ lúc 14 tháng tuổi dù bé chưa mọc răng hàm và thích ăn cháo.
Không ngăn được bà cụ nên chị Xuân xuôi lòng chiều theo. Sau một thời gian, bé ngày càng biếng ăn, còi cọc, 23 tháng tuổi nhưng chỉ nặng 10,5kg. Đưa bé đến bác sĩ dinh dưỡng, chị Xuân mới rõ nguyên cớ con suy dinh dưỡng, rối loạn tiêu hóa xuất phát từ việc được cho ăn cơm quá sớm, khiến dạ dày của bé bị ảnh hưởng.
Trong khi đó, chị Trà, nhân viên công ty bảo hiểm tại quận 3, TP HCM, lại đau đầu vì con gái đã hơn 2 tuổi nhưng không chịu ăn cơm. Bác sĩ giải thích, đây là hậu quả bé đã quen với việc được ăn cháo và thức ăn xay nhuyễn, không thích cử động nhai khi phải tập ăn cơm.
Trẻ cần làm quen với cơm mềm khi có khoảng 20 chiếc răng. Ảnh: news.sina
Bác sĩ CKII Nguyễn Thị Thu Hậu, Trưởng khoa Dinh dưỡng bệnh viện Nhi đồng 2 cho biết, sau 19 tháng tuổi, khi có ít nhất 16 răng sữa, trẻ có thể làm quen với cơm nhão tán nhuyễn. Đến độ sau 24 tháng tuổi, trẻ có khoảng 20 răng thì có thể tập ăn cơm mềm.
Theo bác sĩ CKI Nguyễn Thị Ngọc Hương, Trưởng Khoa Dinh dưỡng Lâm sàng, Trung tâm Dinh dưỡng TP HCM, thông thường tuổi thích hợp để trẻ ăn cơm là lên 2. Trong độ tuổi 18 đến 24 tháng, trẻ có thể ăn 3 bữa chính mỗi ngày với cơm nát và cháo đặc.  
Chia sẻ trong một buổi sinh hoạt tại Trung tâm Dinh dưỡng TP HCM, bác sĩ Hương cho biết, sai lầm mà nhiều bà mẹ hay mắc phải là thường tán cơm thật nhuyễn rồi chan nước canh vào. Cách này khiến cho trẻ rất dễ ngán và không khuyến khích được cử động nhai ở trẻ.
"Cơm cho trẻ chuẩn bị ăn cơm phải mềm hơn cơm người lớn. Khi nấu cơm bình thường của người lớn, có thể chọn ra một  phần dùng muỗng đánh nhẹ làm cho vỡ hạt cơm ra rồi đem chưng trong nồi cơm một lần nữa. Nếu khéo léo có thể để nghiêng nồi cơm về một phía để có được phần cơm hơi nhão hơn cho trẻ", bác sĩ Hương chia sẻ.
Bữa cơm cho trẻ cần đầy đủ các nhóm chất dinh dưỡng, lựa chọn những món bé thích và chế biến phù hợp. Thực phẩm nhóm chất đạm cần mềm, thái miếng nhỏ. Thực phẩm nhóm rau cần mềm, màu sắc đẹp, giàu chất xơ, giàu vitamin. Thực phẩm nhóm béo chọn lựa theo sở thích của trẻ, theo điều kiện kinh tế gia đình. Khi trẻ ăn cơm, cần linh hoạt, uyển chuyển sử dụng đầy đủ chất béo trong chế biến các món ăn, đáp ứng được nhu cầu rất lớn của trẻ trong những năm đầu đời.
Một trường hợp phổ biến mà các bà mẹ thường mắc phải là tỏ ra căng thẳng khi trẻ không thích ăn cơm, chỉ thích ăn mì gói, bún... Theo bác sĩ Hương, không nên để không khí gia đình quá căng thẳng vì bữa ăn của trẻ, để trẻ tự lựa chọn thứ mà mình thích. Nếu trẻ không thích ăn cơm, có thể cho trẻ ăn các món khác cơm nhưng vẫn đủ 4 nhóm chất dinh dưỡng. Ví dụ trẻ thích ăn mì gói thì có thể thêm chả, trứng, xúc xích để đảm bảo chất đạm, sau đó cho trẻ ăn thêm rau, trái cây. 
Bác sĩ Hương cũng khuyến cáo, cần kiên trì dỗ trẻ ăn một ít cơm trước rồi mới cho trẻ ăn món trẻ thích sau để duy trì thói quen ăn cơm. Ngoài ra, khi bữa chính của trẻ không phải là cơm, cần bổ sung sữa, các chế phẩm từ sữa, các món ăn vặt... sau đó để trẻ nhận đủ chất dinh dưỡng. Bữa ăn chính của trẻ nên trong khoảng thời gian 30-40 phút.
Lê Phương

12 sai lầm phổ biến khi chăm trẻ

Nghĩ rằng phải cho bé ăn thật nhiều mới khỏe, cho ăn thực phẩm bổ dưỡng vô tội vạ... là những sai lầm phổ biến của nhiều ông bố, bà mẹ hiện nay.
Theo chuyên viên tư vấn Trần Đăng Thảo và một bác sĩ dinh dưỡng từ Tổng đài 1088 TP HCM, việc chăm sóc trẻ tốt hay kém sẽ ảnh hưởng rất lớn tới tình trạng sức khỏe thể chất, còn việc dạy dỗ, uốn nắn thói quen có ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành tính cách của các em khi lớn lên. Tuy nhiên trên thực tế, nhiều phụ huynh vẫn nuôi và dạy con một cách thiếu khoa học, từ đó dẫn đến những "tác dụng phụ" không như mong đợi.
1. Trách mắng trẻ khi ăn
Ông bà ta vẫn nói "trời đánh tránh miếng ăn". Việc mắng trẻ nhỏ khi ăn uống sẽ làm cho bé cảm thấy buồn rầu, bực bội, tính cách thay đổi. Tâm lý tiêu cực đó có thể làm cho trẻ chán ăn, tiêu hóa không tốt, ảnh hưởng đến sức khỏe và tinh thần.
Ảnh minh họa: Kid'shealth.
2. Không tập cho trẻ ăn rau
Không tập thói quen ăn rau xanh từ nhỏ, đến khi lớn lên trẻ thường không thích ăn rau, dẫn đến thiếu các dinh dưỡng, sinh tố thiết yếu từ rau củ quả, ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất.
3. Ăn kẹo bánh nhiều
Trẻ ăn vặt nhiều sẽ không cảm thấy đói nên thường bỏ bê bữa ăn chính. Hơn nữa, kẹo bánh sau khi ăn nếu không làm sạch khoang miệng sẽ tạo điều kiện cho vi khuẩn sinh sôi, dễ gây sâu răng. Do đó, tốt nhất trước bữa ăn chính hoặc giờ đi ngủ 2 tiếng, bố mẹ không nên cho trẻ ăn kẹo. Lúc bình thường nếu có ăn kẹo bánh, sau đó cần đánh răng súc miệng sạch.
4. Ăn mặn
Thông thường cha mẹ có thói quen ăn mặn sẽ gieo thói quen này cho con. Trẻ em ăn quá mặn dễ dẫn đến thói quen ăn mặn khi lớn lên. Lâu dài sẽ dễ bị huyết áp cao, tim và mạch máu.
5. Ăn những thực phẩm có nhiều chất phụ gia
Không nên cho trẻ ăn nhiều thực phẩm có hương liệu, bột ngọt, màu thực phẩm, chất bảo quản (có trong thức ăn chế biến sẵn)... Những phụ gia này có hại cho sự phát triển não của trẻ.
6. Nghĩ rằng nuôi con béo mới khỏe
Nhiều cha mẹ sợ con ăn không đủ chất dinh dưỡng nên ép trẻ ăn thật nhiều. Hệ quả là các em bị béo phì. Những đứa trẻ béo phì thường có thị giác, tri giác và khả năng tiếp thu thấp hơn trẻ bình thường, dễ mắc nhiều bệnh tiềm ẩn khác.
7. Tạo thành thói quen xấu khi cho trẻ ăn
Một số bà mẹ mắc sai lầm khi chiều con thái quá, chẳng hạn trẻ đòi bật tivi xem phim mới ăn cơm. Chính thói quen này sẽ khiến trẻ lơ là việc ăn uống, dẫn đến kén ăn, lười ăn, hoặc vì mải xem truyền hình mà bữa ăn của bé kéo dài thật lâu.
8. Ăn uống quá nhiều
Một số bà mẹ có con lần đầu thường sợ bé đói nên cứ vài phút lại cho ăn một lần. Song thực tế trẻ em ăn uống quá nhiều có thể làm cho cơ thể khó tiêu hóa và hấp thụ. Tình trạng này lặp đi lặp lại sẽ làm cho bụng trẻ to lên, dễ béo phì.
9. Không sửa tật hay dụi mắt, móc mũi của trẻ
Trên bàn tay của chúng ta thường có vi khuẩn và trứng ký sinh trùng, đặc biệt là khi đến chốn công cộng. Do đó nếu dụi tay lên mắt, hoặc dùng tay móc mũi dễ dẫn đến nhiễm trùng và viêm mắt, mũi. Thay vào đó nên tập cho các em thói quen rửa mắt, mũi bằng nước sạch khi vệ sinh thân thể. 
10. Không sửa thói quen ngoáy lỗ tai
Ngoáy tai có thể làm tổn thương màng nhĩ, ảnh hưởng đến thính lực mà có thể gây nhiễm trùng tai. 
11. Trùm chăn kín đầu khi ngủ
Không chỉ trẻ em mà nhiều người lớn thường trùm chăn kín đầu khi ngủ. Đây là thói quen không tốt. Bởi mùi mồi hôi, mùi hôi của cơ thể, khí thải ra từ đường ruột, khí cacbonic thở ra khi ngủ đều có thể tản vào chăn, nệm. Việc trùm chăn kín đầu khi ngủ sẽ làm cho các chất khí có hại ấy dội ngược đi vào cơ thể qua đường hô hấp, ảnh hưởng đến sức khỏe.
12. Tẩm bổ vô tội vạ
Có nhiều cha mẹ nghĩ rằng cứ phải tẩm bổ cho con bằng bào ngư, vi cá, sữa ong chúa, nhân sâm, trứng vịt lộn... sẽ có lợi cho sự phát triển của trẻ. Tuy nhiên theo khuyến cáo của các nhà khoa học dinh dưỡng, việc bổ sung dinh dưỡng không hợp lý dễ khiến trẻ mất cân bằng, thậm chí bệnh tật. Một số nghiên cứu còn chỉ ra, trẻ nhỏ thường xuyên dùng các loại thuốc bổ có chứa sữa ong chúa, nhân sâm sẽ gặp hiện tượng mất cân bằng nội tiết dẫn đến dậy thì sớm.
Thụy Ân

Những bước đệm cho trí thông minh của trẻ

Để tăng chỉ số IQ của bé, trong giai đoạn 3 năm đầu đời, mẹ nên có chế độ dinh dưỡng khoa học và đầy đủ dưỡng chất, đồng thời phải được tăng cường hấp thu cho trí não.
Nghiên cứu khoa học dinh dưỡng mới đây đã chỉ ra, để hoàn thiện 80% khối lượng và chức năng não, gia tăng liên kết giữa các xinap thần kinh trong 3 năm đầu đời, não bộ của bé cần được bổ sung hệ 12 dưỡng chất quan trọng cho trí não bao gồm: lutein, DHA, AA, omega 3, omega 6, taurine, choline, sắt, kẽm, axit pholic, iod, phospholipid.
3 năm đầu đời và những con số
- Khi bé một tuổi, các xinap thần kinh sẽ được kết nối với tốc độ cao khoảng 2 triệu xinap một giây.
- Ở tuổi thôi nôi, não bộ bé sẽ phát triển đạt 70% về khối lượng và sự hoàn thiện các chức năng não bộ .
- Khi bé 2 đến 3 tuổi, mức độ hoàn thiện, sự phát triển của hệ thần kinh trung ương đạt 80% so với các chức năng não cũng như thể tích não bộ so với người trưởng thành. Ngoài việc nhận biết, bé đã bắt đầu vận động nhiều, ghi nhớ tốt hơn và có sự phát triển rõ rệt về ngôn ngữ giao tiếp.
Các nghiên cứu khoa học cũng chỉ ra rằng, mọi thiếu hụt về kích cỡ, chức năng của não bộ trong giai đoạn này gần như không thể “sửa chữa” và có thể là nguyên nhân khiến chỉ số IQ của bé kém hơn các bạn đồng trang lứa.
Tăng cường hấp thu dưỡng chất cho trí não giúp phát huy tiềm năng trí tuệ trẻ.
Để bé đạt cột mốc 80% sự hoàn thiện về thể tích và chức năng của não bộ trong 3 năm đầu đời, dinh dưỡng khoa học được xem là nền tảng quan trọng. Ngay từ khi mang thai, mẹ đã được khuyến khích bổ sung taurine, cholin, kẽm, có nhiều trong súp lơ, cá hồi, mầm lúa mì, trứng… để hoàn thiện các ống thần kinh, tiếp nhận các dẫn truyền thần kinh cho con. Các dưỡng chất quan trọng khác như DHA, lutein có nhiều trong rau củ quả xanh đậm như bó xôi, các thực phẩm trứng, sữa...
Khoa học dinh dưỡng cũng đã chỉ ra mối liên quan của các dưỡng chất quan trọng như lutein, DHA, Omega 3-6… trong sự phát triển thị giác và trí não ở trẻ. Lutein còn đóng trong vai trò là một carotenoid có chức năng bảo vệ lượng DHA khỏi nguy cơ ôxy hoá trước khi được hấp thu. Với sự hỗ trợ của hệ chất béo đặc biệt, cặp đôi dưỡng chất quan trọng này sẽ có môi trường tốt để dễ dàng hoà tan và hấp thu, phù hợp với việc hoàn thiện thị giác và trí não. Sự hoàn thiện của thị giác sẽ giúp bé tiếp nhận thế giới xung quanh rõ nét hơn, gia tăng kết nối các xinap thần kinh, thúc đẩy dẫn truyền tín hiệu về hệ thần kinh, để các vùng chức năng não xử lý, phân tích, ghi nhớ nhanh và tốt hơn.
Theo tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Anh Tuấn, Bệnh viện Nhi Đồng 1, các mẹ có nhiệm vụ thiết lập một chế độ dinh dưỡng khoa học, đủ lượng và chất cho trí não trong suốt những năm đầu đời. Trong giai đoạn 3 năm đầu đời, để hoàn thiện 80% não bộ, bé cần có chế độ dinh dưỡng khoa học và đầy đủ dưỡng chất, đồng thời phải được tăng cường hấp thu cho trí não.
Ngoài ra, sự có mặt của hệ chất béo đặc biệt không dầu cọ sẽ giúp tăng cường hấp thu những dưỡng chất vàng như lutein, DHA… cho sự phát triển trí não và thị giác chính là điều trẻ cần. Bổ sung đủ hệ 12 dưỡng chất chính, tăng cường hấp thu dưỡng chất cho trí não là nền tảng vững chắc giúp phát huy tiềm năng trí tuệ trẻ.
Diệp Trương

Dạy con biết phép lịch sự

Hãy dạy con biết nói lời xin chào, cảm ơn, xin lỗi... ngay khi chúng bắt đầu học nói.
1. Hãy là tấm gương cho trẻ
Trẻ em khi còn nhỏ rất dễ làm theo và bắt chước người lớn. Vì vậy, muốn dạy con từ những chuyện nhỏ nhất, từ câu chào, lời cảm ơn, xin lỗi..., bố mẹ, ông bà và người thân trong gia đình phải là những người thực hiện đầu tiên, là tấm gương cho bé nhìn vào. Cần phải dạy dỗ trẻ khi chúng có thể nói được những từ hoàn chỉnh càng sớm càng tốt. Nếu trẻ chưa học nói, bạn hoàn toàn có thể dạy con thông qua những hành động như vẫy tay chào tạm biệt, khoanh tay để cảm ơn, hay muốn xin một đồ vật nào đó...
2. Khen ngợi khi trẻ lễ phép
Bạn hãy vỗ tay khen ngợi, mỉm cười hay ôm bé vào lòng nếu như con thực hiện những hành động lịch sự như dọn thức ăn vương vãi, chào người hàng xóm hay biết nói lời cảm ơn, xin lỗi... với người khác. Sự động viên, khích lệ của bạn sẽ khiến bé hứng khởi, tích cực lặp lại thời gian sau này. Hãy trân trọng những cố gắng, ý thức của con, dù cho bé có cất lời chào véo von với bất kỳ ai trên phố. 
Ảnh:Doctissimo.
3. Giải thích dễ hiểu cho con
Trẻ con luôn muốn được bố mẹ giải thích cặn kẽ từ những chuyện vô cùng nhỏ nhặt trong đời sống, vì vậy nhiều bậc phụ huynh chóng mặt khi lúc nào cũng phải trả lời câu hỏi "tại sao" của các con. Nếu con còn quá nhỏ, bạn không nhất thiết phải giải thích rõ ngọn ngành, hãy nói với bé một cách đơn giản, dễ hiểu hơn. Tuyệt đối không dùng đồ vật như kẹo, bánh, bim bim... để dụ bé làm. Thói quen này có thể khiến con bạn chỉ khoanh tay xin, chỉ cám ơn khi người lớn giơ ra những vật chúng cần.
4. Kiên nhẫn dạy con
Bạn đã dùng mọi "chiêu bài" để dạy bé cách dọn đồ chơi sau khi chơi, im lặng khi vào rạp chiếu phim, giơ tay che mồm khi ngáp, hay không vứt thức ăn vung vãi ra bàn... mà vẫn không ăn thua. Đừng nên bỏ cuộc, chán nản, hãy từ từ dạy con lại từ đầu. Bạn hãy dành thời gian nhiều hơn để chơi, quan tâm, theo sát từng hành động của con. Không thể dạy con quá nhiều thứ cùng một lúc, và đòi hỏi chúng quá nhiều. Bạn có thể răn đe nếu con có những hành động quá trớn, vô lễ. Cần phải uốn nắn, sửa sai cho con ngay từ khi chúng còn nhỏ.
5. Không so sánh, đặt áp lực cho con
Đừng bao giờ nhìn trẻ con hàng xóm, con nhà đồng nghiệp để so sánh, đề ra quá nhiều áp lực cho con. Con bạn có thể nhận thức chậm hơn một chút, bắt chước các hành động không nhanh bằng các bạn cùng trang lứa, đừng quá sốt ruột về điều đó, dần dần khi lớn lên chúng sẽ hiểu được mọi chuyện. Vai trò của bạn là dạy dỗ con những phép lịch sự tối thiểu một cách nhẹ nhàng, không quát nạt, la lối.
Lê Anh (Theo Doctissimo)

Giáo dục cảm xúc tích cực cho trẻ 1-3 tuổi

Ở giai đoạn này, trẻ bắt đầu hình thành cảm xúc tự hào khi được khen ngợi và xấu hổ nếu bị chê trách. Vì thế người lớn nên thường xuyên khen ngợi khi các em có hành động tốt, nếu bé phạm lỗi, cần nhắc nhở nhẹ nhàng.
Thạc sĩ tâm lý Nguyễn Thị Minh, giảng viên Học viện Hành chính Quốc gia TP HCM khái quát một số đặc điểm về sự phát triển xúc cảm – tình cảm ở trẻ 1-3 tuổi như sau:
Thời gian đầu, cảm xúc và tình cảm của trẻ chưa có tính ổn định, mau thay đổi. Trẻ có thể rất thích thú một cái gì đó, nhưng cũng rất dễ dàng chán. Các em có thể khóc rồi cười nhanh chóng.
Ở độ tuổi này, các bé bắt đầu có tình cảm đối với những người gần gũi như cha mẹ, anh chị, ông bà. Sau đó xuất hiện thêm những hình thái mới: Đứa trẻ mong được người lớn khen ngợi, âu yếm và rất sợ khi người lớn tỏ ra không bằng lòng.
Cha mẹ nên khen ngợi mỗi khi trẻ làm được một việc tốt, qua đó giáo dục tình cảm tự hào nơi các em. Ảnh: Thi Trân.
Đối với bạn cùng tuổi, bé cũng đã bộc lộ được mối thiện cảm của mình bằng cách dỗ dành hay chia sẻ bánh kẹo, đồ chơi cho bạn. Trẻ cũng thường bị ảnh hưởng xúc cảm của người khác, ví dụ thấy bạn khóc thì khóc theo, thấy mẹ buồn cũng buồn theo, thấy bạn chơi đùa vui vẻ cũng cười theo…
Đặc biệt, ở lửa tuổi này trẻ bắt đầu hình thành tình cảm tự hào. Vì vậy, lời khen ngợi của cha mẹ hoặc sự tán thưởng của những người xung quanh là nguồn cổ vũ quan trọng giúp hình thành tình cảm tự hào của trẻ.
Sau đó, xuất hiện thêm tình cảm xấu hổ: Trẻ cảm thấy xấu hổ mỗi khi hành động của mình trái với mong mỏi của người lớn hoặc bị người lớn chê trách. Nếu được giáo dục tốt, tình cảm tự hào và xấu hổ nơi các em sẽ phát triển mạnh, từ đó thúc đẩy trẻ thực hiện những hành động tốt.
Nắm bắt được đặc điểm tâm lý này, người chăm sóc trẻ cần lưu ý:
- Nên thường xuyên khen ngợi khi trẻ đạt được một tiến bộ, thực hiện một hành động tốt, một hành vi hay lời nói đúng.
- Khi trẻ phạm lỗi cần nhắc nhở nhẹ nhàng, cần trách phạt để trẻ hiểu các giới hạn các chuẩn mực. Tuy nhiên cần lựa chọn kỹ các biện pháp trách phạt phù hợp, hạn chế đánh đập, chửi mắng các em quá nặng nề. 
Thi Trân

Cần biết khi chăm sóc dinh dưỡng trẻ lên 3

Ở tuổi lên 3, nếu mẹ bảo “con hãy ăn cái này đi” thì bé sẽ không ăn nhưng mẹ hỏi “con muốn ăn cái này hay cái kia?” là bé sẽ chọn ăn một trong hai, vì bé thích mình tự chủ hơn.

Qua lứa tuổi ăn cháo, bé bắt đầu tập ăn cơm và hoàn thiện khả năng vận động, ngôn ngữ dần tốt hơn. Đây là lúc bé bắt đầu đi học ở nhà trẻ mẫu giáo, bắt đầu một giai đoạn mới trong cuộc đời. Với bước ngoặt này bé cần có sự theo dõi sát và chăm sóc phù hợp để bé tiếp tục phát triển tốt nhất.
Chia sẻ trong buổi sinh hoạt tại Trung tâm Dinh dưỡng TP HCM, bác sĩ CK I Đào Thị Yến Thủy cho biết, giai đoạn bé lên 3 là giai đoạn có nhiều biến chuyển lớn. Ở tuổi lên 3, bé cao 90-93 cm là tốt. Sau đó, mỗi tháng bé cao thêm 0,5-1 cm. Lúc 4 tuổi, bé cao 1m là đúng tiêu chuẩn.
Cân nặng lúc 3 tuổi bé nặng khoảng 14-14,5 kg. Lúc này bé tăng cân chậm, khoảng 100-200g mỗi tháng. Nếu bé không lên cân trong 2-3 tháng liên tiếp, mẹ cần đưa bé đến bác sĩ dinh dưỡng để tư vấn thêm. Mặt khác, nếu bé tăng cân nhanh trên 500g mỗi tháng và trong nhiều tháng liên tiếp, cần xem chừng nguy cơ béo phì. Sau 1 năm đến khi tròn 4 tuổi, bé tăng thêm 2 kg, tức là nặng khoảng 16-16,5 kg.
Ở tuổi lên 3, trẻ thường thường tự chủ, bướng bỉnh hơn trong ăn uống. Ảnh minh họa: Bùi Thủy.
Theo bác sĩ Thủy, ở giai đoạn này, bé thường được mẹ cho ra ngoài chơi nhiều hơn rồi bé đi học nhà trẻ. Bé bắt đầu tập "làm quen" với môi trường bên ngoài với nhiều tác nhân gây nhiễm trùng, vì vậy bé rất hay bị nóng sốt, chảy mũi, ho đàm, tiêu chảy... Do bé độ tuổi này thường mắc bệnh nên nguy cơ suy dinh dưỡng vẫn rình rập khi bé bị bệnh biếng ăn, sau bệnh không được ăn bù, bệnh làm tiêu hao năng lượng và dưỡng chất ăn vào.
Đây là lúc bé đang tự khẳng định mình, thử xem khả năng của mình có thể làm được gì, không làm được gì... Mẹ sẽ thấy bé trở nên độc lập, bướng bỉnh, thích bắt chước và tham gia vào hầu hết các hoạt động của người lớn. Bé sẽ trở nên khó bảo nếu mẹ cứ ép bé ăn cái mà mẹ muốn chứ không phải cái bé muốn mặc dù ý muốn của bé là vô lý, vì đó chỉ vì bé muốn làm ngược lại ý kiến của mẹ, muốn thử xem phản ứng của mẹ, muốn mọi người quan tâm đến mình hơn. Đó là chưa kể đến việc mẹ có thêm một em bé nhỏ hơn, cả nhà cứ tập trung lo cho em bé mới mà quên đi "ông vua con" làm bé hờn giận và không chịu ăn uống.
Những bé đã béo phì đến tuổi này lại càng có nguy cơ tăng cân nhanh do bé đã biết tự lựa chọn thức ăn khoái khẩu như thịt mỡ, món chiên, bánh kem, coca cola… hoặc yêu cầu món ăn cho mẹ nấu, bé có thể tự động đi lấy thức ăn trong tủ lạnh… Bé cũng có thể ngồi chơi đồ chơi lắp ráp một chỗ hoặc xem phim hoạt hình cả ngày.
Lúc này việc ăn uống của bé đã gần giống như người lớn, tức là bé đã có thể tham gia cả 3 bữa ăn chính của gia đình. Mẹ chỉ cần lưu ý cho bé nhận đủ 4 nhóm thực phẩm trong các bữa ăn chính. Bên cạnh đó, bé vẫn cần ít nhất 3 cữ sữa với khoảng 200ml mỗi cữ để đạt chiều cao tốt nhất và bổ sung thêm chất đạm, vitamin và khoáng chất cho các hoạt động của bé.
Nếu bé tăng cân chậm, mẹ có thể lựa chọn các món nhiều năng lượng, các món béo, ngọt cho bé dùng thường xuyên, thêm 1-2 muỗng cà phê dầu ăn (dầu đậu nành, dầu mè tinh luyện) vào chén canh hay cơm của bé. Chọn loại sữa tươi hay sữa bột béo nguyên kem để cung cấp đủ năng lượng cho bé.
Nếu bé tăng cân nhanh, mẹ nên chú ý hơn đến những thức ăn dự trữ trong tủ lạnh, hạn chế trữ nhiều chocolate, bánh kẹo, nước ngọt… Giảm ăn béo, ngọt và tăng lượng rau, củ, trái cây hơn. Nên duy trì sữa để giúp bé tiếp tục phát triển chiều cao. Đối với trẻ béo phì, mẹ có thể bắt đầu tập cho trẻ ăn dặm thêm sữa không béo (sữa gầy, sữa tách bơ) và không đường.
Mẹ hãy cho phép bé lựa chọn thực phẩm trong sự hướng dẫn của mình. Ví dụ nếu mẹ bảo “con hãy ăn cái này đi” thì bé sẽ không ăn nhưng nếu mẹ hỏi “con muốn ăn cái này hay cái kia?” thì bé sẽ chọn ăn một trong hai, vì bé thích mình tự chủ hơn. Mẹ hãy gắng làm bạn với bé, hiểu và không ép bé. Một lưu ý quan trọng cho các bậc cha mẹ là nên cho bé đi ngủ sớm khoảng 9-9h30 tối vì bé sẽ tăng được chiều cao tốt hơn trong bé ngủ từ 11-12h đêm.
Bác sĩ Thủy đưa ra lời khuyên, nếu trong bữa ăn hôm nay bé không thích loại thức ăn nào đó, không ăn hết một chén cơm như mọi khi mà chỉ ăn được nửa chén cơm rồi từ chối thì mẹ đừng ép buộc bé, hãy thử cho bé ăn bù thêm một ít bánh ngọt hay kem, chè, trái cây hay nửa ly sữa nữa sẽ dễ dàng hơn mà vẫn đủ dinh dưỡng.
Điều cần lưu ý là trong mỗi chén cháo, chén cơm của bé đều cần có đủ 4 nhóm thực phẩm với 2-3 muỗng vun chất đạm băm nhuyễn (thịt, cá, tôm, cua, trứng, đậu hũ, gan, huyết, óc heo…),  2 muỗng rau lá hoặc củ băm nhuyễn (rau muống, rau dền, bí đỏ, cà rốt...), 1-2 muỗng dầu ăn.
Thực đơn mẫu gợi ý
Thời gian  Chế độ ăn
7h Một 1 chén hủ tíu có nước béo, thịt heo lát, rau xà lách xắt nhỏ và ½ ly sữa đậu nành.
9h30 1 ly sữa 100ml
12h /3 chén cơm với cá thu sốt cà chua, canh rau muốn nấu tôm tươi xắt nhuyễn, 1 trái chuối 
15h30 1 chén đậu hũ đường và ¼ trái táo
18h30 2/3 chén cơm với đậu hũ kho thịt, súp khoai tây, cà rốt, củ dền.
20h-21h 1-2 ly sữa 200ml.
Lê Phương